VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT

BẢO TỒN DI SẢN Đan mành tre
Công việc bắt đầu từ 5.700 lần trao đổi ánh mắt

Nghề gia truyền của gia đình nghệ nhân Jo Dae-yong là tạo ra những tấm mành bằng tre, được truyền nối từ giữa thế kỷ 19 (cuối triều đại Joseon) đến đời thứ tư của dòng họ. Tấm mành vừa là vật dụng cần thiết hàng ngày trong những ngôi nhà truyền thống Hàn Quốc với chức năng che chắn ánh nhìn từ bên ngoài, điều chỉnh ánh sáng và phân chia không gian, vừa là tác phẩm nghệ thuật đẹp khắc họa những ước vọng của gia đình qua những hoa văn. Đối với ông, việc đan một tấm mành tre vốn phải di chuyển bàn tay hàng chục nghìn lần trong suốt một 100 ngày cho đến khi hoàn thành chẳng khác gì việc tu hành.

Ảnh. Trên khung dệt, một ống quấn nhỏ được gắn vào cuối mỗi sợi chỉ. Để đan thành một bức mành, những sợi tre đẹp đã chẻ mỏng đến 1 mm được đan dệt cùng với những sợi tơ. Các họa tiết trang trí trên bức mành được tạo ra bởi những thao tác đan chỉ phức tạp. Đối với những họa tiết tinh xảo thì cần hơn 500 ống quấn.

Nghệ nhân Jo Dae-yong nhớ lại hình ảnh cha mình với “đôi bàn tay đang chuyển động”. Cha ông là người đan lưới bằng tay không ở một ngôi làng bên bờ biển Tongyeong, một thành phố du lịch ven biển phía nam của Hàn Quốc. Dù gió bắc hay gió tây thổi, cá vẫn thường hay mắc vào lưới do chính tay cha ông đan thành. Vào giữa đông, với đôi bàn tay khéo léo, cha ông tìm đốn những cây tre cứng cáp trước gió biển. Ông tách thân tre thành những dải mỏng và đan chúng lại với nhau hàng nối hàng cho đến khi chiều dài tấm mành bằng chiều cao một người trưởng thành mới dừng tay. Chất liệu làm mành đa dạng, bao gồm tre, lau sậy, thân cây gai nhưng cha của ông chỉ làm mành tre.
Nghệ nhân Jo Dae-yong giải thích: “Người xưa có câu “Nam nữ thất tuế bất đồng tịch” [Nam nữ từ bảy tuổi trở lên thì không được ngồi chung chiếu với nhau], bởi thế gần như không có người nào ngoài gia đình có thể ra vào căn buồng – không gian riêng của phụ nữ và trẻ em. Khi mở cửa buồng, người ta có thể lờ mờ thấy không gian bên trong, vì vậy treo tấm mành lên xem như một bức rèm chắn. Tuy nhiên, từ bên trong, tấm mành không che chắn mắt và người ta có thể nhìn trọn bên ngoài. Ngược lại, từ bên ngoài, tấm mành ngăn cách nên không nhìn thấu được không gian bên trong. Đó là do sự khác biệt độ sáng tối giữa bên trong và bên ngoài. Vả lại, tấm mành vừa chắn những tia nắng gắt, vừa cho gió phảng phất lùa vào trong.”
Xưa, mành là vật dụng vừa phân chia ranh giới bên trong với bên ngoài giúp tận dụng môi trường sống một cách tài tình, vừa chia tách ánh nhìn từ bên trong với ánh nhìn từ bên ngoài. Việc sử dụng tấm mành đã có lịch sử khoảng một nghìn năm trước, từ thời Tam Quốc. Trong cung điện, người ta đặt một tấm mành ở trước ngai vàng ngăn quần thần tùy tiện nhìn lên thiên tử. Ở các không gian thờ cúng như khám thất của từ đường cũng treo tấm mành để phân tách chốn thế tục với chốn linh thiêng. Người ta cũng treo mành lên cửa chiếc kiệu tránh cái nhìn của người ngoài đối với người trong kiệu.

Chiều tà dịu nắng, khi gió nhẹ lướt qua, những họa tiết trang trí trên tấm mành như bay bổng, tạo nên một bức tranh vẽ trên nền của phong cảnh nơi đây. Tùy theo sự thay đổi của ánh sáng và gió, những sợi chỉ dệt nên các họa tiết lúc thì nổi bật hẳn lên lúc lại như chìm khuất trong cảnh vật.

Quá trình thu thập tre
Jo Dae-yong đã tiếp nhận nghề làm mành của cha như là số mệnh của mình. Ông luôn luôn ở gần bên chiếc mành mà cha ông đan lúc rảnh rỗi. Tuy nhiên, đối với ông không có điểm khởi đầu hay kết thúc rõ rệt cho sự học nghề, cũng không có ý định sẽ làm được hay ý từ bỏ không thể làm được. Ông chỉ ngồi trước khung dệt và ngắm nhìn đôi bàn tay của cha một cách vô tư. Cứ như thế, ông bắt đầu dùng khung dệt đó như thể nó là của ông ngay từ thuở đầu. Nếu kiệt sức, ông đẩy khung dệt ra xa trên sàn nhà rồi nằm xuống, sau một hồi lại ngồi dậy, kéo khung dệt lại gần. Đó là thời gian thường nhật của ông.
Đó cũng là thì giờ thường nhật của cha ông, cũng như của ông nội và ông cố ông. Jo nhớ lại, “Ông cố tôi đỗ kỳ thi võ khoa năm 1856, trước khi nhậm chức, lúc thư nhàn, ông làm tấm mành tre, sau đem dâng lên vua Cheoljong (Triết Tông, vị vua thứ 25 của triều đại Joseon). Nghe nói nhà vua đã rất hài lòng với món quà tặng. Ông nội và cha tôi đều có nghề nghiệp riêng nhưng lúc nhàn rỗi cũng đan mành đem tặng hay thi thoảng bán cho hàng xóm xung quanh. Cha tôi sau khi nghỉ việc đã chính thức đến với nghề đan mành. Khi ấy, trong lúc cùng cha chuẩn bị sản phẩm tham dự một cuộc thi tôi đã nghĩ rằng chắc là mình phải theo con đường này. Đó là vào giữa những năm 1970.”
Việc truyền nối một nghề thủ công không phải là nghề nghiệp qua đến thế hệ thứ tư có ý nghĩa gì? Thứ được thừa kế là cuộc sống, hay nét văn hóa hay một kỹ nghệ? Làm thế nào người ta có thể diễn tả hết bằng lời sinh khí hay những chuyển động trên đôi bàn tay của một nghề thủ công gia truyền được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác? Mành tre thực chất là gì đối với Jo Dae-yong – nghệ nhân gìn giữ và đan mành số một Hàn Quốc (được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia số 114)? Những câu hỏi này bất giác hiện ra trong đầu khi tôi đối diện với ông.
Người nghệ nhân bắt đầu với việc giải thích về công việc của mình. “Thợ mộc xây nhà đốn gỗ trước khi nhựa cây dâng lên phần trên của thân cây. Tre cũng như thế. Ta phải đốn trong thời kỳ tre ngủ đông, trước khi mùa xuân đến. Tre đốn trong mùa hè dễ dàng bị gãy rộp khi chạm nhẹ. Vốn dĩ tre không dễ gì gãy nhưng do côn trùng ăn thân tre nên mới như thế. Vì vậy, chúng tôi đun sôi tre mùa hè với dung dịch kiềm rồi mới sử dụng. Đấy là nhằm để ngăn chặn côn trùng ăn thân cây.”
Chất lượng của nguyên liệu quyết định chất lượng của sản phẩm. Vì thế, ánh mắt ông trở nên nghiêm nghị khi tìm kiếm tre. Trong các loại tre, ông chỉ chọn “tre hải tàng” gọi là haejangjuk (danh pháp khoa học là Arundinaria simonii) làm nguyên liệu.
Ông giải thích tiếp. “Tre vua” gọi là wangdae (danh pháp khoa học là Phyllostachys bambusoides) to lớn, thân gần như không có vết xước (do mọc thưa thớt) nên khi vót vỏ rồi đan mành thì màu sắc tươi sáng, song thân tre dễ gãy vì cứng. Ngược lại, tre hải tàng mảnh khảnh và mọc thành cụm san sát nhau. Thế nên, tuy chúng đu đưa va vào nhau tạo nên nhiều vết trầy xước mỗi khi gió bão nhưng thân mềm nên khó gãy và có độ đàn hồi tốt. Cậu biết ngày xưa có loài tre dùng làm cung tên hoặc điếu cày đúng không? Đó chính là loài tre tôi đang nói.”
Ông chỉ một chồng sợi tre ở góc phòng làm việc. Ông nói đấy là nguyên liệu dành cho một năm mà ông đã thu gom hơn một tháng từ tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau. Bao nhiêu đấy có thể làm ra bảy hay tám sản phẩm. Thế nhưng việc tìm kiếm để có được nguyên liệu như thế là một công việc gian khổ, phải cúi người xuống và quan sát kỹ cuộc đời của cây tre. Ông tìm khắp cánh đồng tre hải tàng đang mọc san sát nhau những cây tre không có vết trầy xước và mọc thẳng nuột. Tre non 1 – 2 tuổi thì không thể lấy do rất khó chẻ và mềm như giấy. Chỉ loại tre 3 tuổi dễ dàng chẻ tách bằng dao mới làm thỏa mãn ông. Nhưng trong chừng 10 cây tre, ông chỉ chọn được một thân cây đáp ứng tất cả những tiêu chuẩn đó.

Ảnh. Gia đình nghệ nhân Jo Dae-yong đã làm mành tre suốt năm thế hệ, bắt đầu từ giữa thế kỷ 19. Con gái của ông, Jo Suk-mi, đang làm việc cùng cha bên khung dệt.

Ảnh. “Mành tre với hoa văn văn tự Song Hỷ và hoa văn mu rùa” của Jo Dae-yong, 2017, 180 x 132 cm. Bức mành có một chữ tượng hình được tạo thành bằng cách kết hợp hai Hán tự giống nhau mang ý nghĩa “hạnh phúc”, sau đó nó được trang trí bằng hoa văn mu rùa.

Đồ gia dụng, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật
“Hễ làm việc ngoài rừng tre một tháng là lưng tôi lại đau. Bác sĩ nào cũng bảo là tôi không được ngồi quá lâu… nhưng để làm việc thì tôi phải ngồi cả đời rồi, nếu không được ngồi thì còn khổ hơn,” Jo tâm sự. Đốn tre chỉ là phần bắt đầu của công việc đan mành. Ngay sau khi đốn tre xuống, ông cắt tre sao cho vừa kích cỡ của tấm mành với chiều ngang khoảng 125–180 cm, chiều dọc là 180 cm, và trước khi tre bị thâm đen thì phải róc vỏ và ruột tre rồi trải thân cây ra phơi. Tre được phơi ngoài trời trong suốt một tháng, đón nắng, gió và sương cho đến khi khô hẳn đi. Từ màu xanh, tre chuyển sang màu ngà, sau đó được chẻ thành các sợi mỏng 1 mm. Hầu như ông phải làm tất cả những việc đó. Song, điều khó khăn nhất là công đoạn làm nhẵn sợi tre bằng cách xỏ chúng qua một lỗ nhỏ trên tấm thép cứng (hay còn gọi là gomusoe).
Jo giải thích quá trình tỉ mỉ này. “Khi dùng đinh đóng lên mặt trước của tấm thép mỏng thì mặt sau sẽ bị nhô ra như sắp bị thủng. Đóng đinh xong thì tôi mài các đầu nhô ra đó trên đá mài để tạo ra các lỗ nhỏ. Độ lớn của các lỗ đủ để cho sợi tre có kích cỡ 1 mm chui qua được. Sợi tre khi đi qua các lưỡi cắt siêu nhỏ từ các lỗ trên tấm thép sẽ được cắt nhỏ hơn nữa. Mỗi sợi phải cắt ba lần để đạt được độ mỏng từ 0,6–0,7 mm. Thế nhưng trong lúc xỏ sợi tre qua lỗ cắt, nếu không đặt đúng góc độ thì sợi tre sẽ gãy ngay. Vì tập trung nắm và xỏ sợi tre như vậy nên đầu ngón tay của tôi bị mòn và bị dằm đâm vào, mà việc này phải làm bằng cảm giác nhạy cảm của bàn tay nên tôi không đeo găng tay được, dù là găng tay mỏng thế nào đi nữa.”
Mỗi tấm mành tre cần khoảng 1.800 sợi tre, để dự trữ thì tổng cộng cần 1.900 sợi. Nếu như ông cho biết mỗi sợi phải xỏ qua tấm thép ba lần thì tức là ông phải xỏ đến 5.700 lần. Công việc này đòi hỏi ông phải điều khiển cảm giác của cánh tay 5.700 lần và ánh mắt phải liên tục quan sát 5.700 lần để nhận ra sự thay đổi dù chỉ 0,1 mm của sợi tre. Nhưng sự thật thì Jo chưa bao giờ nghĩ đến con số đó. Khi được hỏi công việc này khó đến mức nào ông chỉ trả lời giản dị: “Tôi cứ làm thế thôi, cho đến khi nào làm tốt. Các công đoạn khác thì không biết thế nào chứ việc này cần ít nhất năm năm mới nắm bắt được.”

Ảnh. Cần hơn 1.800 sợi tre để tạo nên một tấm mành. Để có nguyên liệu, nghệ nhân Jo phải tìm khắp các cành đồng tre ở thành phố Tongyeong mỗi năm từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau. Ông dùng các loài tre được gọi là tre hải tàng gọi là haejangjuk, bởi nó mảnh khảnh, mềm dẻo và ít bị gãy ngang.

Ông thường mất khoảng 100 ngày để hoàn thành một tác phẩm, trong đó 25 ngày dùng để xẻ tre và 75 ngày còn lại để đan mành. Sợi tre mảnh được đưa lên khung và đan vào nhau bằng những sợi tơ, ông sẽ tạo nên các chữ viết và họa tiết trong quá trình đan. Tất cả các loại chữ viết và họa tiết đều được tạo thành từ khung dệt. Do đó, tùy theo độ khó của họa tiết mà ông sẽ treo các ống quấn chỉ vào khung, và có khung treo đến hơn 500 ống. Tức là sẽ có những họa tiết phải cần đan đến 500 sợi chỉ. “Tôi thường sử dụng các chữ mang ý nghĩa cầu mong trường thọ, hạnh phúc, bình an. Cậu hãy nhìn bức mành treo trên tường kia kìa,” Jo nói và hỏi tôi, “Cậu thấy chữ “song hỷ” ở ngay giữa chứ? Bên trong chữ “song hỷ” ấy còn có họa tiết nữa đấy. Các nét trên chữ đầy ắp hoa văn mu rùa, hoa văn mắt lưới.”
Các họa tiết của tấm mành treo trên tường như một khung tranh đó khá mờ nhạt. Phải nhìn thật kĩ thì mới thấy hai loại hoa văn mà ông nhắc đến, chúng vừa giản dị vừa nhẹ nhàng, mới nhìn không thấy cuốn hút gì. Tuy nhiên, khi tấm mành đó được treo đúng vị trí vốn có là ngưỡng cửa của hanok, nhà truyền thống của Hàn Quốc, thì mọi chuyện trở nên khác hẳn. Chiều tà dịu nắng, khi gió nhẹ lướt qua, những họa tiết trang trí trên tấm mành như bay bổng, tạo nên một bức tranh vẽ trên nền của phong cảnh nơi đây. Tùy theo sự thay đổi của ánh sáng và gió, những sợi chỉ dệt nên các họa tiết lúc thì nổi bật hẳn lên lúc lại như chìm khuất trong cảnh vật. Tấm mành tre được treo trong không gian và thời gian như thế, nên mỗi khoảnh khắc khác nhau lại toát lên những vẻ đẹp khác nhau, không thể phân biệt được rạch ròi giữa một đồ gia dụng và một tác phẩm nghệ thuật.

Nguy cơ trước sự thay đổi của môi trường sống
“Tôi không thể tạo ra các bức mành giống nhau từ năm này qua năm khác. Tre và chỉ càng ngày càng mỏng hơn, nhưng dù mỏng thế nào đi nữa thì cũng có giới hạn của chúng,” Jo nói. “Điều khiến tôi nhận ra tấm mành đang làm khác với tấm mành trước đó chính là họa tiết. Trên những tấm mành cùng kích cỡ, tôi đã thử tạo ra các chữ theo nhiều cách… nhưng nếu nhiều chữ hơn và nhiều nét hơn thì tỷ lệ hoa văn lục giác bên trong các nét có thể không chính xác nữa. Việc này trông có vẻ dễ nhưng tôi phải đan thật tỉ mỉ làm sao cho vừa khớp từng chút từng chút một, như là lên thiết kế ấy. Dù đã đan mành 50 năm rồi nhưng tôi vẫn phải thận trọng.”
Hình ảnh về con người của Jo Dae-yong cũng được khắc họa rất rõ khi chúng tôi trò chuyện với nhau về họa tiết. Tôi hỏi ông về tấm mành quý nhất trong số những tấm mành ông đã gặp đến giờ. Ông nhớ lại:
“Tôi đã từng được giao sửa lại một tấm mành bị hỏng. Đó là tấm mành mà quý bà Francesca Rhee, phu nhân của cố tổng thống Rhee Syngman trao lại cho gia đình chồng khi bà sang Mỹ. Tôi có thể tháo ra và phục hồi lại tấm mành đó nhưng vì nó là vật được trao lại bởi một nhân vật cao quý nên tôi khuyên họ hãy bảo quản thì sẽ tốt hơn. Cuối cùng họ cũng quyết định giữ nguyên tình trạng của tấm mành như thế. Còn tôi thì đan một tác phẩm khác tái hiện y hệt họa tiết của tấm mành đó. Và tôi đã nhận được giải thưởng của tổng thống trong Cuộc thi Thủ công Mỹ nghệ toàn quốc.”
Câu chuyện về mành cũng nhắc nghệ nhân Jo nhớ đến một tác phẩm đã từng gặp tại chùa Songgwang ở Suncheon mà ông không thể nào quên được. Đó là một cuộn mành tre dùng để bảo quản Kinh Phật, Và ông đặc biệt ấn tượng với họa tiết hàng chục con dơi đang bay. Thấy ông hồi tưởng khá lâu về tấm mành ấy, tôi bèn hỏi rằng ông có mong tạo ra một tấm tương tự hay không. Ông đáp:
“Tôi không dám… Khi tôi nhìn tác phẩm ấy, tôi cảm nhận được rằng sư thầy đã mất hai ba năm, từ bỏ tất cả mọi thứ để chuyên tâm đan dệt. Tấm lòng của sư thầy thành khẩn biết bao nhiêu, nhìn bức mành ấy là biết ngay mà.”
Dù được công nhận là “Báu vật nhân văn sống”, nhưng nghệ nhân đan mành tre Jo Dae-yong vẫn thấy bấp bênh trước hiện thực cuộc sống. Các ngôi nhà truyền thống lần lượt mất đi, nhu cầu mành tre giảm sút nhanh, đến một lúc nào đó, ông sẽ phải đối mặt với “vấn đề bán mành” chứ không phải là “vấn đề làm ra mành” nữa. Thêm vào đó, do không còn ai can đảm theo học nên việc lưu truyền nghề đan mành tre trở nên khó khăn hơn. Con trai và con gái của ông đang kế thừa nghề của bố, nhưng cũng không biết được tương lai sẽ như thế nào.
Không hiểu sao hôm ấy trời mưa dầm dề cả ngày, trò chuyện lâu với tôi trong khi chiếc lưng đau liên tục hành hạ, cuối cùng Jo Dae-yong đành nằm sấp xuống sàn. Ở tư thế nằm như thế, ông ngước cổ lên trả lời những câu hỏi của tôi. Câu chuyện của ông pha lẫn chút tiếc nuối vì chỉ mới sáu bảy năm về trước, có cả xe đưa học sinh mẫu giáo đến đây, bọn trẻ đã trực tiếp ngắm và sờ các bức mành tre nhưng bây giờ thì không thấy nữa.
Rõ ràng là, nghề thủ công của gia đình hơn năm thế hệ gìn giữ đang đứng trước cơn cuồng phong khắc nghiệt mang tên thời đại.

Kang Shin-jae Cộng tác viên tự do.
Choi Jung-sun Ảnh.
Nguyễn Trung Hiệp Dịch.
페이스북 유튜브

COMMENTS AND QUESTIONS TO koreana@kf.or.kr
Address: 55, Sinjung-ro, Seogwipo-si, Jeju-do, 63565, Republic of Korea
Tel: +82-64-804-1000 / Fax: +82-64-804-1273
ⓒ The Korea Foundation. All rights Reserved.

Copyright ⓒ The Korea Foundation All rights reserved.

페이스북 유튜브