VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT

TIÊU ĐIỂM OndolDi sản văn hoá quốc gia

Tháng Tư vừa qua, văn hóa ondol, phương thức sưởi ấm truyền thống của Hàn Quốc đã được Cục Di sản văn hóa công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể số 135. Làm nóng sàn nhà bằng cách sử dụng nhiệt bức xạ gián tiếp, ondol là hệ thống sưởi ấm độc đáo của Hàn Quốc khác hẳn với các nước phương Tây, cũng như hai nước láng giềng Trung Quốc và Nhật Bản.

Một phòng khách của ngôi nhà cổ gia tộc Jang Heung-hyo (hiệu là Gyeongdang, 1564–1633), một nhà Nho học trung kỳ Joseon, tại Andong, tỉnh Gyeongsangbuk-do. Sàn nhà của căn phòng ondol thường được đánh bóng với dầu đậu nành sau khi dán một lớp giấy hanji dày (giấy truyền thống) trên lớp đất sét. Đồ nội thất được đặt xa nhất khỏi chỗ đun nóng.

Nhiều người Hàn Quốc thuộc tầng lớp trung lão niên có những kỷ niệm giống nhau về ondol. Chẳng hạn nằm dưới sàn nhà để làm ấm cơ thể sau khi ra ngoài về giữa mùa đông lạnh giá, hay cẩn trọng đặt bát cơm tối dành cho người cha hay về nhà trễ xuống sàn nhà và dùng tấm chăn phủ lên để không bị nguội. Chứa đựng những kỷ niệm đẹp như thế, văn hóa ondol có nhiều lý do để được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Tại nhiều di tích thuộc thời kỳ đồ đá mới trên bán đảo Hàn, người ta phát hiện được dấu tích của ondol ở hình thức sơ khai và thấy rằng trải qua thời gian dài lịch sử, ondol chính là yếu tố chính quyết định cách thức sinh hoạt trên sàn nhà của người Hàn Quốc. “Văn hóa ondol”, chứ không phải loại hình ondol, được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể trọng yếu là do nét văn hóa sinh hoạt cộng đồng được lưu truyền từ xưa đến nay trên toàn bán đảo Hàn.
Đối với người Hàn Quốc, gian bếp – nơi khai sinh ra ondol – là không gian có ý nghĩa rất đặc biệt. Bếp là nơi có bàn thờ thần, chỗ thanh lọc, đồng thời là nơi thắp lên và giữ ngọn lửa nấu thức ăn nuôi cả gia đình và giúp mùa đông lạnh giá trở nên ấm áp. Ondol là nét tinh túy trong văn hóa cư trú truyền thống của người Hàn Quốc, những người có kỹ năng sử dụng lửa tuyệt vời.

Agung-i và lò sưởi
Là nơi cung cấp lửa trong nhà bếp, agung-i (bếp lò, không gian nhóm lửa) tuy là nơi đốt lửa như lò sưởi nhưng có cấu tạo và công năng phức tạp hơn hẳn so với lò sưởi. Lò sưởi khi có lửa sẽ làm nóng không khí trong phòng. Không khí nóng bay lên trên và ngọn lửa đang cháy trong lò cứ thế đốt cháy oxy trong phòng làm cho không khí bị ô nhiễm. Ở Tây Âu, những ống khói gắn vào lò sưởi xuất hiện lần đầu vào thế kỉ 13–14 tại Venice, Ý. Trước giai đoạn đó, để thoáng khí hoàn toàn, người ta buộc phải cho không khí bị đốt nóng thoát ra ngoài qua lối cửa sổ.

Trong ngôi nhà truyền thống Hàn Quốc, gian bếp gắn với phòng chính. Không khí nóng từ agung-i (lò sưởi hoặc bếp lửa) của nhà bếp chảy vào các đường ống dẫn khí dưới sàn nhà để làm ấm căn phòng.

Nhà không có ống khói không chỉ xuất hiện ở châu Âu. Những ngôi nhà truyền thống của Trung Quốc cũng không có ống khói. Thay vào đó, không gian nào sử dụng lửa thì trần nhà cao và cấu trúc của mái đơn giản. Kèo gỗ có đường kính khoảng 10 cm được đặt cố định và trên đó lợp những viên ngói. Khi nhóm lửa, khói bay lên tập trung bên dưới trần nhà và thoát ra ngoài qua khe hở giữa các viên ngói, nhưng tại thời điểm này, luồng khí ấm cũng thoát ra theo. Dù hầu hết các khu vực ở Trung Quốc đều lạnh nhưng lại không lắp đặt hệ thống sưởi gì đặc biệt, và ngoài nấu nướng ra thì có rất ít lý do để người dân nơi đây nhóm lửa. Ở nhà truyền thống Nhật Bản, kiểu nhà lót sàn bằng chiếu tatami, cũng không có ống khói.
Khác hẳn với lò sưởi, agung-i của Hàn Quốc được kết nối với các phòng và có một hệ thống sưởi được gọi là ondol. Ondol là cách sưởi ấm bức xạ, theo quy trình dùng lửa trong lò làm ấm sàn nhà, từ sàn nhà nhiệt sẽ lan tỏa trong không khí và làm nóng bên trong phòng. Ngược lại, lò sưởi là hệ thống sưởi đối lưu làm ấm không khí trực tiếp. Vì vậy, lò sưởi thường được bố trí bên trên, còn ondol lại có agung-i nằm dưới sàn nhà. Sưởi ấm bức xạ có hiệu suất nhiệt cao hơn sưởi ấm đối lưu, vì vậy nó có thể dễ dàng làm nóng một không gian rộng lớn, phân bố đều nhiệt trong phòng nên dễ chịu hơn, và vì dòng đối lưu nhiệt rất tự nhiên nên bụi dưới sàn cũng không bị bay lên trên.
Mô hình sưởi ấm bức xạ được sử dụng nhiều nơi trên thế giới. Có thể kể đến hình thức xông hơi khói (smoke sauna) ở Phần Lan, hay lò pechka (lò sưởi bằng than) ở Nga. Hệ thống sưởi được sử dụng từ Hà Bắc đến Đông Bắc Trung Quốc gọi là “kēng (坑)” (hay kang) cũng có nét tương đồng với ondol của Hàn Quốc . Kēng có kích thước bằng một chiếc giường rộng, chỉ sưởi ấm được một phần nào đó của căn phòng mà thôi. Cách thức sưởi ấm này cũng kết hợp giữa sưởi ấm bức xạ và sưởi ấm đối lưu nhưng nếu so sánh với ondol của Hàn Quốc thì điểm khác biệt lớn nhất chính là ondol không tạo ra khói trong phòng khi đốt nóng.

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động
Việc đốt lửa từ bên ngoài và làm nóng bên trong phòng chính là cách thức sưởi ấm độc đáo của ondol. Do đó đòi hỏi thao tác lắp đặt phải thật kỹ càng. Vì phải làm sao để nhiệt khi đốt phải được lưu giữ lại và lưu thông bên trong lò đốt (agung-i) chứ không được thoát ra ngoài.
Khi sưởi ấm, vừa phải giữ nhiệt vừa phải thải khói cùng một lúc là việc vô cùng mâu thuẫn. Tuy nhiên ondol có đủ thiết bị vừa gom giữ nhiệt vừa thải khói được lắp dưới sàn nhà nên có thể giải quyết mâu thuẫn này. Ngoài agung-i (lò đốt), dưới sàn nhà người ta lắp hai thiết bị lớn là gorae (ống dẫn nhiệt) và gaejari gần ống khói. Gorae là mạng ống dẫn gồm nhiều ống song song để đưa nhiệt tạo ra từ đốt lò lưu thông lan tỏa đều đặn dưới sàn nhà. Lửa đốt trong lò agung-i theo đường ống đi bên dưới làm ấm sàn nhà, còn khói thoát ra ngoài qua ống khói. Phần lớn các đường ống có chiều rộng khoảng 20 cm và được xây bằng gạch, cùng hướng về phía ống khói và trải dài song song nhau. Để ngăn cách chúng, người ta xây bức tường gạch dọc theo, cũng là trụ chống đỡ cho các đường ống này, đồng thời dùng những phiến đá có độ dày 0,3 cm lắp đầy toàn bộ mặt sàn rồi đắp bùn lên trên để phân chia rõ ràng không gian phía trên và dưới phòng. Những phiến đá lát này có tên gọi là gudeul, khi lửa chạy qua ống dẫn, khói thoát ra từ đây sẽ xoáy tròn dưới gedeul rồi bay lên hướng ống khói.

Để đảm bảo phân phối nhiệt, việc bố trí các đường ống dẫn dưới sàn (gorae) và các tấm sàn đá (gudeul) cũng vô cùng quan trọng. Các ống dẫn khí nóng thường được làm bằng gạch xếp chồng lên nhau thành một đường thẳng hoặc theo hình quạt. Các tấm đá thường dày hơn ở gần lò sưởi và mỏng hơn ở phía xa.

Ondol không chỉ đơn thuần là thiết bị sưởi ấm. Vì lò đốt ở bên ngoài căn phòng, nên dù đường truyền có tốt đến mấy cũng sẽ phát sinh hiện tượng rò rỉ nhiệt. Do đó, chủ nhà thường đặt những chiếc lò đốt bên trong gian bếp sát cạnh phòng nhằm tận dụng nhiệt rò rỉ để nấu ăn. Người Hàn Quốc đốt lò vào mùa đông để sưởi ấm, tuy nhiên cả mùa mưa dầm trong hè thì họ cũng đốt lửa trong lò để hong khô không khí ẩm. Vì ondol giữ nhiệt rất tốt nên dù chỉ đốt lửa một lần duy nhất vào tối mùa đông thật lạnh thì nhiệt độ trong phòng vẫn được duy trì đến tận sáng hôm sau. Nếu dùng năm sáu thanh củi để đốt thì những phiến đá gudeul lót sàn có thể duy trì nhiệt độ trong suốt ba ngày. Tại Á tự phòng (亞字房), nơi tu tập của chùa Chilbu (Thất Phật tự) trên núi Jirisan có thể đốt được 0,5 tấn củi một lần, họ cho biết với một lần đốt lửa như vậy nhiệt độ của sàn và tường có thể giữ ấm được khoảng 100 ngày.
Chỉ với một lần đốt và ít nguyên liệu, ondol có thể duy trì nhiệt độ rất lâu, tuy nhiên, khi lửa tắt và nhiệt nguội đi thì không khí lạnh sẽ đi vào lò đốt agung-i và ống khói đặt bên ngoài, việc này sẽ khiến cho mặt ngoài của đường ống bị ẩm. Nếu bị ẩm quá lâu thì khi đốt lửa, gorae sẽ không thể truyền lửa tốt nên tốn nhiều nhiên liệu hơn. Để khắc phục nhược điểm này, người ta tạo một chỗ hõm gọi là gaejari ở vị trí hợp lý phía dưới ống khói để thu hút độ ẩm bên trong các ống dẫn khí. Hơi ẩm đọng lại trong hố sẽ bốc hơi khi luồng nhiệt lại lưu thông qua đường ống. Nếu nhìn thoáng qua thì gaejari chẳng khác gì một chỗ trống bị lõm xuống giữa đường ống dẫn hơi nóng và ống khói, thế nhưng chính không gian trống đó lại tạo ra tác dụng động lực học cho luồng không khí dưới sàn nhà.
Vì tác dụng như vậy nên ngày xưa, nhiều loài chó nuôi trong nhà hay tìm cách chui vào hố gaejari gần phía lò để tránh cái lạnh của đêm đông. Cũng có những buổi sáng, người ta nhóm bếp làm cho chú chó đang ngủ giật mình và phóng vọt ra khỏi lò. Những lúc như thế cả người lẫn chó đều giật mình. Do đó, trước khi đốt lò, người Hàn Quốc thường dùng gậy gõ vào lò để kiểm tra xem có chú chó nào đang ngủ trong đó hay không rồi mới nhóm lửa.

Ngôi nhà cổ của Sim Ho-taek, một người giàu có từng sử dụng bút danh Songso, ở huyện Cheongsong, tỉnh Gyeongsangbuk-do. Ngôi nhà được xây vào khoảng năm 1880, là một kiểu nhà đặc trưng của gia đình quý tộc thời hậu kỳ Joseon. Mỗi phòng đều kết nối với agung-i nên được sưởi ấm, còn gian sảnh giữa nhà, ở bên ngoài thì không.

Khi lửa được đốt trong lò, không khí nóng và khói di chuyển theo các đường ống dẫn dưới sàn nhà. Các phòng được làm ấm bằng nhiệt tỏa dưới sàn nhà, trong khi khói được dẫn ra ngoài thông qua một ống khói.

Khởi nguồn của sưởi ấm bằng nước nóng
Văn hóa ondol được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia là do ondol truyền thống đang dần dà mất đi. Theo thời gian, lò đốt agung-i của ondol không còn được sử dụng trong gia đình Hàn Quốc nữa mà thay vào đó là lò hơi nước nóng. Người Hàn Quốc cũng dùng đường ống dẫn nước nóng để làm nóng sàn thay cho đường ống dẫn nhiệt gorae ngày trước. Ở các khu chung cư lớn thường lắp đặt hệ thống sưởi ấm bằng nước nóng theo phương thức trung tâm cho hàng trăm, hàng nghìn căn hộ.
Người đầu tiên phát minh ra phương pháp sưởi ấm bằng cách dùng đường ống dẫn nước nóng làm ấm sàn nhà là kiến trúc sư người Mỹ Frank Lloyd Wright. Ông vốn được xem là bậc thầy trong giới kiến trúc sư cận đại và ông tiếp cận với ondol là vào mùa đông năm 1914 tại Tokyo, Nhật Bản.
Okura Kihachiro (大倉喜八郞), người đã giao cho Wright thiết kế khách sạn Imperial đã đưa ông đến một căn phòng khi phát hiện ra ông đang run rẩy vì lạnh trên sàn của phòng trải chiếu tatami.

“Tôi có cảm giác như mùa xuân đến vậy... Khi gập gối ngồi dưới sàn nhà, cảm giác ấm áp khó tả bằng lời bao trùm lấy tôi. Tôi không nhìn thấy bất cứ thiết bị sưởi ấm nào, cũng không có dấu hiệu gì để tôi có thể suy đoán. Như thể không phải nhờ hệ thống sưởi ấm mà chính thời tiết tự nhiên ấm áp vậy.”

Okura giải thích với Wright đó là phòng Korea (Korean Room), là phòng riêng dành cho Thái tử Joseon khi người này chạy trốn khỏi cung Gyeongbok trong thời Nhật chiếm đóng. Vì căn phòng như một ngôi nhà truyền thống của Korea, được xây theo cách thức ghép gỗ lại với nhau nên rất dễ tháo lắp. Wright cho biết bản thân ông đã trải qua kỳ tích ở đây.
“Nhiệt độ như được thay đổi đột ngột. Không phải vì cà phê. Tôi có cảm giác như mùa xuân đến vậy. Chúng tôi thấy ấm và vui trở lại. Khi gập gối ngồi dưới sàn nhà, cảm giác ấm áp khó tả bằng lời bao trùm lấy tôi. Tôi không nhìn thấy bất cứ thiết bị sưởi ấm nào, cũng không có dấu hiệu gì để tôi có thể suy đoán, “À, thì ra sưởi ấm được là nhờ vào cái này đây!”. Như thể không phải nhờ hệ thống sưởi ấm mà chính thời tiết tự nhiên ấm áp vậy.” (– trích “Gravity Heat”, trong Frank Lloyd Wright: An Autobiography”, tái bản năm 1943).
Lúc bấy giờ, Wright sau khi trải qua “hiện tượng thời tiết” trong phòng Korea đã cho đường ống nước chằng chịt của bộ tản nhiệt điện đi khắp dưới sàn của khách sạn Imperial. Đó chính là khởi đầu của phương pháp sưởi ấm bằng nước nóng, về sau Wright còn áp dụng phương pháp này trong nhiều công trình kiến trúc khác.

Không gian chữa bệnh
Những kết quả này đã được giải thích bởi thực tế là tia hồng ngoại bức xạ phát ra từ những viên đá và sàn đắp bùn khi căn phòng được sưởi ấm, hơi nóng sẽ thấm vào cơ thể chúng ta và có tác dụng trị liệu tăng thân nhiệt. Nhiệt trực tiếp chạm vào da giúp lưu thông máu hơn là nhiệt trong không khí, và tia hồng ngoại bức xạ sẽ giúp gia tăng độ miễn dịch của cơ thể, giúp phục hồi khả năng tự chữa bệnh của cơ thể. Đây là lý do vì sao các thí nghiệm khoa học và những nỗ lực nhằm tiếp tục kết hợp những ảnh hưởng tốt cho sức khỏe của ondol với hệ thống sưởi hiện đại.

Ham Seong-hoNhà thơ, Kiến trúc sư
Nguyễn Xuân Thùy Linh Dịch
페이스북 유튜브

COMMENTS AND QUESTIONS TO koreana@kf.or.kr
Address: 55, Sinjung-ro, Seogwipo-si, Jeju-do, 63565, Republic of Korea
Tel: +82-64-804-1000 / Fax: +82-64-804-1273
ⓒ The Korea Foundation. All rights Reserved.

Copyright ⓒ The Korea Foundation All rights reserved.

페이스북 유튜브