ĐỜI SỐNG

TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG Câu chuyện về những ngôi nhà ở khu phố
Seongbuk-dong

Nép mình dọc theo phần phía bắc của tường thành Seoul cổ, dưới chân núi Bugak, khu Seongbuk-dong đã thu hút rất nhiều văn nhân và nghệ sĩ nổi tiếng trong giai đoạn thuộc địa (1910–19450), khi Seoul được mở rộng ra ngoài bức tường thành cổ. Khu phố với những ngôi nhà cổ của các nhân vật nổi tiếng từng một thời được mệnh danh là “làng nghệ sĩ” này giờ trở thành điểm đến yêu thích với nhiều Phòng triển lãm mỹ thuật và các di tích văn hóa.

Tên Seongbuk-dong có nghĩa là “Khu phố phía bắc của tường thành”. Được thành lập ngay bên ngoài phần phía đông bắc của tường thành Seoul vào thế kỷ 18, 19 trong thời kỳ Joseon, khu vực này ngày này có rất nhiều địa điểm văn hóa và là điểm đến du lịch nổi tiếng với những ngôi nhà hiện đại sang trọng xen lẫn giữa những ngôi nhà truyền thống.

Thành phố không phải lúc nào cũng ngừng yên nơi đó. Thành phố luôn thay đổi mới hàng ngày theo phong cách sống của thị dân tập trung ở đấy và những giá trị mà họ theo đuổi. Bởi vậy thành phố lúc nào cũng mới mẻ, xa lạ và cũng chính bởi thế quyển hướng dẫn du lịch mới nhất với đầy đủ chi tiết chỉ dẫn tận tình luôn không bao giờ có thể cập nhật đầy đủ. Mở bản đồ ra, du khách sẽ thấy thành phố với những con đường lớn tỏa khắp mà quảng trường là trung tâm và các ngõ nhỏ kết nối với nhau.
Những người đã trải qua một ngày mệt mỏi nơi công sở hay những người giơ cao khẩu hiệu vừa lớn tiếng thét vang cũng đều rời khỏi quảng trường hướng về con dốc yên tĩnh nơi gia đình mà họ phải chăm lo và sự nghỉ ngơi đang chời đợi họ. Trong mảnh sân nhỏ của ngôi nhà không chủ ở góc đường, tôi tha thẩn dạo quanh và nghĩ về cuộc sống và suy tư của người đàn ông đã từng sống trong ngôi nhà này. Và hôm đó, tôi đã thay đổi định kiến bấy lâu nay về người chủ nhà đó.

Đô thành Hanseong và Hoa đào
Con đường chính ở Seongbuk-dong kéo dài hơn 3 ki-lô-mét từ ga tàu điện ngầm Hansungdae (Tuyến số 4) đến trường Tiểu học Seongbuk, và đi qua Samcheong-dong. Dạo bước hướng về ngọn núi phía xa, thỉnh thoảng ghé vào các cửa hiệu trang trí đẹp mắt nằm sát hai bên đường, tôi chợt nhật ra con đường dần trở nên hẹp và dốc. Bởi đoạn này người ta đã cho xây phủ con đường lên trên dòng suối Seongbuk chảy từ núi Bugak xuống. Hãy thử tưởng tượng dưới chân bạn là dòng nước, chảy qua các khe đá xuống thung lũng và tạo thành con thác nhỏ tầng tầng lớp lớp.
Mặc dù nằm sát bên ngoài đô thành Hanyang Doseong (tức Seoul ngày nay), nhưng vì rừng cây rậm rạp nên nơi đây, chỉ có biệt trang của một vài nhà giàu nào đó, và những mái nhà tranh tránh mưa tránh rét cho kẻ nghèo khó. 100 năm trước đây, vùng này chỉ lưa thưa chưa đến 70 hộ, thì nay đã phát triển thành một ngôi làng với hơn hai mươi vạn nhân khẩu, quả là một vùng không thể không nhắc đến câu chuyện tái thiết đô thị.
Mặc dù cũng là một con đường bình thường như những con đường khác trên khắp thành phố Seoul nhưng ở đây khắp nơi đều có treo bảng chỉ dẫn về các sự kiện văn hóa. Cũng có vô số các bảng hiệu khiến bạn phải dừng chân. Đó là những vết tích về một nhân vật nào đó mà tất cả người dân trong làng tự hào và tôn vinh. Và rồi tôi bắt gặp những đoàn khách du lịch xếp thành hàng đi theo người hướng dẫn viên đang giơ chiếc cờ hiệu nhỏ. Việc chính quyền các khu vực đầu tư xây dựng các di tích văn hóa, lịch sử của địa phương và cất công tổ chức sự kiện không phải là chuyện mới.
Nếu điểm qua tài nguyên du lịch của Seongbuk-dong, trước hết phải kể đến thành Hanyang. Thành Hanyang là bức tường thành có đường kính 18,6 ki-lô-mét, được Thái Tổ Lee Seong-gye (Lý Thành Quế, 1335–1408) cho đắp liên kết bốn ngọn núi xung quanh để tạo thành bức tường bảo vệ kinh thành và cung điện Gyeongbok sau khi dời đô về Hanyang. Tường thành vừa có địa hình núi non, vừa có địa hình đồng bằng theo kiểu Hàn Quốc này, bên trong có cung điện và các cơ quan hành chính, chợ búa và khu dân cư, đặc trưng này hơi khác với thành của các nước phương Tây. “Mùa xuân và mùa hạ, người dân Hanyang dạo quanh một vòng tường thành để ngắm phong cảnh, từ khi mặt trời mọc cho đến khi màn đêm buông xuống.”
Những ghi chép như vậy cho thấy tường thành Hanyang không chỉ là cơ sở quân sự mà còn được mở cửa cho tất cả mọi người. Trong đó khu Seongbuk-dong kéo dài từ núi Bugak đến núi Nakta, ôm trọn khoảng 4 ki-lô-mét di tích tường thành. Thành Hanyang là một thành có vị trí khá cao so với các đô thành khác nên khách du lịch khi đi dọc tường thành theo con đường chạy dài qua các sườn núi sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng thành phố Seoul từ trên cao với tường thành xưa cũ và những khu phố hiện đại. Nơi để ngắm cảnh đẹp nhất theo người dân Seoul là mỏm đá Malbawui (Đá Ngựa) ở công viên Waryong, còn các chuyên gia thì chấm điểm cao nhất cho Cheonundae (Thanh vân đài) nằm giữa Changuimun (Chính nghĩa môn) và Sukjeongmun (Túc tịnh môn) – cửa chính phía bắc của đô thành, nơi nhìn về toàn cảnh Namsan.

Nhà văn Yi Tae-jun đã tháo dỡ căn nhà ở Cheorwon và mang về đây xây lại thành ngôi nhà ở Seongbuk-dong, nơi ông đã sống và làm việc khoảng 10 năm. Nơi này, được đặt tên là “Suyeon Sanbang” (có nghĩa là “Thọ nghiên sơn phòng”), hiện là một tiệm trà truyền thống được điều hành bởi hậu duệ của nhà văn Yi.

Đô thành Hanyang tự hào dù được xây dựng hàng trăm năm trước nhưng nền thành vẫn còn nguyên vẹn chưa chỗ nào bị sụp đổ, nhưng mọi người đã không thể lường trước được sự gia tăng dân số trong thành 30 năm sau đó. Khi dân số trong thành gia tăng một cách nhanh chóng, triều đình Joseon đã cho xây dựng khu vực dân cư khoảng 10 lý (khoảng 4 km) ngoài thành bắt đầu từ cổng Dongdaemun (Đông đại môn) để giãn dân. Cho đến lúc đó, khu vực Seongbukdong vẫn còn chưa tính đến. Bởi nơi đây suối sâu, rừng rậm. Nhưng người dân bắt đầu đến sống tại khu vực này năm 1766 thời vua Yeongjo, khi nhóm vệ binh Bukdun của Eoyeongcheong (Ngự doanh sảnh) được cử đến đóng tại đây vì mục đích tăng cường phòng ngự. Khi quân lính đồn trú, ruộng vườn bắt đầu được canh tác để cung cấp quân lương, và theo đó nhà dân bắt đầu mọc lên hai bên dòng suối. Nhưng việc trồng trọt trên đất cát ở hai bên suối không dễ dàng chút nào. Để giúp những hộ dân này định cư, đã xuất hiện các hộ dân khác cung cấp hàng khô và người dân cũng trồng những cây ăn quả như đào quanh nhà để thêm sinh kế. Khoảng 20 năm sau đó tể tướng danh tiếng của hậu kỳ Joseon Chae Je-gong (1720–1799) khi đi du ngoạn vùng này đã ghi chép lại như sau:
“Vừa đi vừa nghỉ nhìn xuống thì đã thấy lác đác thôn xóm dưới chân núi bao quanh bởi hàng rào cây đào, thấp thoáng sau khung cửa và dưới chái hiên là hàng rào hoa đào khoe sắc. Người dân ở trong thành, dù là quan hay dân thường tất cả đều ngất ngây trước khung cảnh nên thơ này đến quên cả thời gian.”
Và kể từ đó quân Bukdun được đổi tên thành “Đào hoa Bukdun”. Và cũng từ khoảng đấy, các văn nhân quyền thế, hoàng tộc, các gia đình quý tộc bắt đầu có biệt trang ở vùng này. Thời Nhật chiếm đóng, nơi đây đã thấy xuất hiện biệt trang kiểu phương Tây và ngày nay nơi này nổi tiếng với khu biệt thự sang trọng của các chủ tịch tập đoàn lớn.

Các thư phòng văn nhân: Suyeon Sanbang và Noshi Sanbang
Trong Tạp chí “Samcheolli” ra mắt lần đầu vào tháng 6 năm 1929, có đăng bài viết nhan đề “Làng văn nhân ở Seongbuk-dong”. Bài viết nói rằng, khu Seongbuk-dong ngoại thành Seoul có cảnh trí xinh đẹp, không khí trong lành nên gần đây nhiều người dân Seoul chuyển đến đó sinh sống và đặc biệt là các văn nhân lấy nghệ thuật làm bè bạn. Một trong số đó là tiểu thuyết gia nổi tiếng Yi Tae-jun (hay Lee Tae-jun, 1904–?). Thời điểm đó, Yi Tae-jun tuy là nhà văn mới nổi, tuổi đời vừa quá ba mươi nhưng là một tác giả được chú ý trên văn đàn bởi lối văn phong xuất chúng.
Trong tiểu thuyết “Hwadu”, nhà văn Choi In-hoon (sinh năm 1936 - ) đã miêu tả ngôi nhà mà Yi Tae-jun sống như sau:
“Đó là ngôi nhà hướng nam, hình chữ ㄱ [một ký tự trong bảng chữ cái Hangeul], có vọng lâu, nhìn chính diện vọng lâu sẽ thấy bảng hiệu bằng gỗ khắc chữ “Văn Hương lầu” treo ở đó. Vọng lâu này hướng về phía nhà, ở cuối góc phải, phần ngang của hình chữ ㄱ là sảnh (phòng khách) và phòng tiếp khách của chủ nhà (thư phòng). Sảnh tiếp khách này là sảnh ngoài bằng gỗ, bước từ hiên lên, còn phía trong là gian trong có khung cửa sổ gắn
Năm 1930 Yi Tae-jun lập gia đình và sau khi chuyển đến nơi này sinh sống, năm 1933 ông cho dỡ bỏ ngôi nhà tranh cũ, thay vào đó là ngôi nhà của người chú họ ở Cheorwon Yondam mà ông từng sống thời còn bé mang về nơi này dựng lại nhà. Yi Tae-jun vừa nhìn tay nghề của các thợ mộc già xây ngôi nhà này, vừa ca ngợi, “ngôi nhà của ta được tạo dựng bởi đôi tay của họ, dù là nhà sichejip nhưng rất ít ẩu thả”. Chữ “sichejip” mà ông nhắc đến ở đây ý chỉ “một ngôi nhà hợp thời”, thay đổi cấu trúc của nhà hanok truyền thống, không phân biệt không gian nam và nữ, thay giấy dán cửa bằng khung kính, nhà vệ sinh vốn tách biệt với nhà chính giờ được xây liền với sàn maru, đồng thời ngôi nhà vẫn giữ nguyên các yếu tố bên ngoài truyền thống như mái lợp ngói, mái hiên cong, xà nhà và lan can gỗ có trang trí nên tác giả mới đánh giá là “rất ít ẩu thả”. Một điểm nhấn cho ngôi nhà “hanok hiện đại” nằm ở ý tưởng sàn của gian vọng lâu vừa làm phòng anbang (cho nữ) vừa là sarangche (cho nam).
Ngôi nhà được gọi là “Thọ Nghiên Sơn Phòng” này hiện được tân trang thành tiệm trà do cháu gái của Yi Tae-jun điều hành. Ở nơi trũng nhất trong vườn, có một ao nước nhỏ. Đây là nơi ngày trước Yi Tae-jun mỗi sáng cầm chiếc bàn chải đánh răng vừa đánh răng vừa ngước nhìn lên tường thành nhấp nhô phía xa vừa nói đùa, “Ta đang đánh răng của mình mà ngỡ như có lúc đang chải sang cả tường thành kia.” Nhưng tiếc là giờ đây những tán cây thông to lớn và những tòa nhà cao tầng xung quanh đã che mất tầm nhìn ra tường thành.

Nhà thơ, nhà sư Han Yong-un sống tại ngôi nhà này sau khi ông bị giam giữ vì những hoạt động độc lập. Những người ủng hộ xây dựng ngôi nhà, lấy tên Simujang (Tầm Ngưu Trang) cho ông vào năm 1933, sau khi ông được thả ra. Ngôi nhà được xây dựng có chủ ý với hướng bắc để tránh phải đối mặt với Dinh Toàn quyền Nhật. Han Yong-un qua đời vào năm 1944, một năm trước khi Hàn Quốc được giải phóng khỏi sự cai trị của Nhật Bản.

Từ ngôi nhà của văn hào Yi Tae-jun leo lên một đoạn dốc nhỏ sẽ thấy lối vào Simujiang (Tầm Ngưu Trang), nơi nhà thơ, nhà sư Han Yong Un (Hàn Long Vân, 1879–1944) đã từng sống kể từ sau khi ra khỏi nhà ngục thực dân năm 1933 cho đến khi qua đời. Cũng ngay tại lối vào đó, là di tích ngôi nhà tiểu thuyết gia với mái tóc kỳ lạ Park Tae-won (1090–1986) sống ba năm, từ năm 1948. Park Tae-won được sự giới thiệu của văn hào Yi Tae-jun, đã nhận được sự chú ý trên văn đàn lúc bấy giờ với truyện vừa “Một ngày của tiểu thuyết gia Gubo” theo mô-típ phim hành trình (road-movie), đăng nhiều kỳ trên báo. Nhưng vì món nợ quá lớn để xây ngôi nhà tại Donam-dong nên ông bị vướng vào vấn đề tài chính và cuối cùng phải bán nhà để trả nợ. Ông rời đến vùng hẻo lánh Seongbuk-dong dựng mái nhà tranh bao quanh bởi hàng rào cỏ ba lá mà ông nhận được thay cho tiền bản quyền.
Từ di tích nhà của văn hào Park Tae-won, nhìn sang phía đối diện là khu biệt thự hiện đại Huyndai và một ngôi am nhỏ gọi là Suworam, giữa đó là Nosi Sanbang (Lão Thị Sơn Phòng) của họa sĩ, tác gia tùy bút Kim Yong-jun (1904–1967). Kim là bạn thời du học ở Nhật với Yi Tae-jun, năm 1934 ông thuyết phục vợ dù bà “quyết liệt phản đối” để dọn đến nơi “một chiếc xe thậm chí không thể đến cửa trước, và gà lôi, sói rừng thỉnh thoảng chạy xuống từ núi sau nhà.” Ông bộc bạch rằng động cơ khiến ông chuyển đến Seongbuk-dong là vì “thật sự yêu mấy cội hồng già ở đây”. “Lão Thị”, tức cây hồng già, là tên hiệu mà Lee Tae Jun đặt cho Kim. Họa sĩ Kim sống ở ngôi nhà này hơn chục năm thì bán lại cho học trò yêu là họa sĩ Kim Whanki (1913–1974). Nói là trao gửi lại thì chính xác hơn. Và như thế, ông đã chia tay với những gì từng gọi là “những cây thưa thớt và tổ chim ác là, hàng rào cỏ ba lá và những viên đá kỳ lạ, tuyết trắng và ánh mặt trời ấm áp”, “những người bạn duy nhất tô điểm cho mùa đông của Lão Thị xá”. Kim giải thích lý do ông chia tay ngôi nhà này trong tùy bút “Yukjang hugi” (“Dục trang hậu ký”) và hồi tưởng về nhân duyên của ông với ngôi nhà đó, xem cuộc sống của ông ở đó là “một đoạn ảo ảnh”. Không biết có phải vì như thế, mà hiện nay ngôi nhà không còn dấu vết nào sót lại.

Làng Bukjeong, nơi Simujang tọa lạc, được gọi là “Làng Trăng cuối cùng dưới vòm trời”. Một ngôi làng trăng, hay “daldongne” trong tiếng Hàn, chỉ “một khu phố cao gần đến mặt trăng” và thường biểu thị một khu vực nghèo hơn. Các con hẻm dốc, chật hẹp và những ngôi nhà cũ, lụp xụp.

 

Trong khi hồi tưởng về nhân duyên của ông với ngôi nhà đó, họa sĩ Kim Yong-jun đã gọi cuộc sống của ông ở đó là “một đoạn ảo ảnh”. Không biết có phải vì như thế, mà hiện nay ngôi nhà không còn dấu vết nào sót lại.

Một đoạn ảo ảnh
Bây giờ, có lẽ đã đến lúc tôi nói rõ về “định kiến cũ” của mình. Trong tiểu thuyết “Trước và sau giải phóng”, Yi Tae-jun đã mượn lời nhân vật chính Hyeon như sau:
“Hyeon thật sự rất muốn sống. Nói đúng ra là muốn chịu đựng hơn là muốn sống. Hãy tin vào chiến thắng của lực lượng đồng minh! Hãy tin vào quy luật của lịch sử và chính nghĩa! Nếu quy luật của lịch sử và chính nghĩa phản bội lại nhân loại thì lúc đó có thất vọng cũng chưa muộn. Hyeon đã không bán nhà. Ở Châu Âu, Mặt trận thứ hai vẫn chưa bắt đầu, và mặc dù quân Nhật còn ở Rabaul ở Thái Bình Dương, nhưng anh tính toán rằng tất cả sẽ kết thúc muộn lắm trong hai ba năm nữa, và cố gắng vay càng nhiều càng tốt bằng ngôi nhà này, và anh sẽ rời Seoul.”

“Suhyang Sanbang” (1944) tác phẩm của họa sĩ Kim Yong-jun. Mực và màu sáng trên giấy, 24 x 32 cm.
Bức tranh này được thực hiện bởi nhà văn, họa sĩ Kim Yong-jun vẽ tặng họa sĩ Kim Whanki và vợ. Kim đã bán ngôi nhà của mình cho Kim Whanki, người đã đổi tên nơi này thành “Suhyang Sanbang” (Thụ Hương Sơn Phòng), lấy theo âm tiết từ hiệu Suhwa của ông và tên vợ ông là Kim Hyang-an. Ngôi nhà hiện không còn nhưng được nhắc nhớ trong nhiều câu chuyện.

Thời gian Yi Tae-jun về quê năm 1943 ngay trước khi Nhật Bản bại trận, xây ngôi nhà không bán cho đến tận nay ở Seongbuk-dong, là thời kỳ Nhật phát động sự biến Mãn Châu (hay Mukden) để đưa ra cớ xâm nhập Mãn Châu, khiến đấu tranh vũ trang của các chiến sĩ chống Nhật diễn ra mạnh mẽ. Thời điểm đó, Seoul vẫn còn bình ổn. Nhằm thúc đẩy quá trình cận đại hóa của Seoul, chính quyền phủ Gyeongseong (tên gọi Seoul trong thời Nhật chiếm đóng) đã phát hành “Khảo sát Quy hoạch Đô thị Gyeongseong” năm 1928 gây sự quan tâm của nhiều người, dự kiến xây dựng tuyến đường sắt Gyeongwon (nối Seoul – Wonsan), đi qua quận Gangbuk và Seongbuk ngày nay, nối liền Nam–Bắc của đất nước. Tuyến đường Gyeongwon chẳng phải đi qua vùng quê Cheorwon mà ông yêu mến đó sao.
Sau khi Seongbuk-dong được sáp nhập vào phủ Gyeongseong, đã có tin đồn rằng sẽ có tuyến đường nối từ Hyehwamun (một cửa nhỏ phía đông bắc của thành phố) đến Seongbuk-dong và Donam-dong. Các trung tâm môi giới bất động sản nắm trước cơ hội đã bắt đầu mở văn phòng tại Seongbuk-dong. Lúc bấy giờ Yi Tae-jun vào làm tại tòa soạn báo Jungoe Ilbo năm 1931, và sau đó đảm nhận vị trí trưởng ban biên tập Văn Nghệ của tờ báo sau đó trở thành tờ Joseon Jungang Ilbo. Tôi cần một lời lý giải của ai đó về mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tại đặt ra trước mắt Yi Tae-jun lúc bấy giờ.
Có lẽ Yi muốn tin rằng bằng sức lực và năng lực của mình, duy trì cuộc sống hàng ngày yên bình trong ngôi nhà nhỏ xinh xắn, cuối cùng ông cũng có thể chứng kiến quy luật của lịch sử và chính nghĩa. Là một nhà văn, ông có lẽ đã quyết tâm sẽ viết về cuộc sống của những con người thuộc tầng lớp dưới, những người không thể thích ứng với xã hội đang ngày càng thay đổi mà không có sự thỏa hiệp, và về vẻ đẹp của quê hương và những gì xưa cũ. Và ông có lẽ đã cảm thấy rằng việc chịu đựng cuộc sống nhẫn nhục “bên trong” thuộc địa đau khổ này còn khó khăn hơn sự chiến đấu “ngoài kia”. Nếu không như vậy, thì là như lời của nhà văn Choi In-hoon, “Người ta không thể sống trong một đất nước bị kẻ thù chiếm đóng.”

Bức ảnh gia đình của Yi Tae-jun vẫn còn treo bên trong Suyeon Sanbang (Thọ Nghiên Sơn Phòng). Cả gia đình đứng trong khu vườn nhà. Cuộc khủng hoảng xã hội đã nhấn chìm Hàn Quốc sau giải phóng và Yi, trong nỗi tuyệt vọng sâu sắc đã cùng gia đình vượt qua Bắc Hàn vào năm 1946.

Ra đi
Tuy nhiên, sau giải phóng tình hình của Seoul nằm trong dòng chảy của bối cảnh chung, khó có thể đưa ra một quyết định lý tưởng, và cho dù là sự lựa chọn thế nào đi nữa cũng mang lại vết thương tâm hồn và ông đã không thể đảm bảo giấc mơ giải phóng từng mong muốn. Năm 1946, bỗng nhiên yi Tae-jun quyết định cùng gia đình rời ngôi nhà ở Seongbuk-dong và sang Triều Tiên. Sau đó đến lượt Kim Yong-jun và Park Tae-won cũng ra đi. Kể từ sau đó quan điểm và mâu thuẫn hiện thực đón chờ họ tại phía Bắc chỉ có thể tóm tắt qua một vài lời chứng và vài ghi chép sơ sài, ngoài ra chưa thấy có nghiên cứu sâu từ quan điểm của văn học sử.
Xin trích dẫn một đoạn trong bài viết “Khoảnh khắc thơ ca của hạnh phúc” của Mun Gwang-hun, một nhà nghiên cứu văn học Đức yêu thích văn chương viết về một bức ảnh gia đình của yi Tae-jun như sau.
“Ở đây có một bức ảnh cũ. Là bức ảnh gia đình nhà văn Yi Tae-jun chụp cùng vợ và hai con trai, ba con gái tại ngôi nhà Seongbuk-dong năm 1942... Bức ảnh này có lẽ là hình ảnh cho chúng ta thấy rõ nhất hạnh phúc là gì, hạnh phúc có vị trí thế nào trong cuộc sống của chúng ta, và điều đó đến và đi như thế nào.” Tôi quay lại nhìn nơi họ đã từng đứng chụp ảnh. Khu vườn vắng bóng người chủ cũ nhưng hoa cỏ vẫn tươi khoe sắc.

Lee Chang-guy Nhà thơ, nhà phê bình văn học
Ahn Hong-beom Ảnh.
Hiền Nguyễn Dịch.
페이스북 유튜브

COMMENTS AND QUESTIONS TO koreana@kf.or.kr
Address: 55, Sinjung-ro, Seogwipo-si, Jeju-do, 63565, Republic of Korea
Tel: +82-64-804-1000 / Fax: +82-64-804-1273
ⓒ The Korea Foundation. All rights Reserved.

Copyright ⓒ The Korea Foundation All rights reserved.

페이스북 유튜브