CHUYÊN ĐỀ

K-Beauty:
Ngành công nghiệp nở hoa và Mỹ học Hàn Quốc
CHUYÊN ĐỀ 1 Quan niệm thẩm mỹ và bản tính tự do, vượt trên mọi khuôn mẫu

Nhiều năm qua, những con người sống trên mảnh đất này đã dùng vũ điệu, lời ca và sự hài hước để đối mặt với đè nén, áp bức; để tự bảo vệ và tìm kiếm sự kết nối với những gì tồn tại trên thế gian. Giấc mơ về một thế giới nơi tất cả cùng chung sống hòa bình, không loại trừ nhau chính là một trong những tiêu chí cơ bản làm nên quan niệm về cái đẹp của người Hàn.

Trong một bài viết ở đâu đó, tôi đã từng đề cập: “Tôi tin thơ là ý chí ghi nhận cái đẹp”. Quan niệm cái đẹp vốn mang tính chủ quan và không thể có lời giải đáp chung cho sự sáng tạo hay tiếp nhận cái đẹp. Trăm người, trăm cách tiếp cận. Cũng vì thế, tôi không thể đưa ra một định nghĩa phổ quát về “quan niệm thẩm mỹ của người Hàn”. Thế nhưng, là một nhà thơ luôn say mê cái đẹp, tôi có thể nói về “những gì thật Hàn Quốc” mà tôi đặc biệt yêu thích.
Cách đây không lâu, có người khiến tôi phải thốt lên: “Đẹp!”. Đó chính là nhóm nhạc Bangtan Boys, hay còn gọi là nhóm BTS. Từ khi mới xuất hiện đến nay, họ luôn làm tôi nghĩ đến một hình ảnh rất đặc biệt: những chú hổ Hàn – hổ Siberia hay còn được gọi là hổ núi Paektu.
Trong lần trình diễn đầu tiên của họ, tôi thấy cảnh tượng những chú hổ con tự do đùa nghịch, còn ngày nay tôi thấy ở họ hình ảnh các chú hổ đã trưởng thành, đĩnh đạc an ủi nỗi đau của những người cùng thế hệ trên toàn thế giới. Tôi khẽ run lên trước màn trình diễn của các chú hổ tài năng với hình thức đầy cá tính hợp lại như một con mãnh hổ lớn nhảy từng bước nhịp nhàng. Tôi thích miêu tả màn trình diễn của họ bằng cụm từ “cái đẹp hoang dã”. Họ khiến tôi có cảm giác tài năng thế hệ tổ tiên từng sống trên mảnh đất này vẫn tiếp nối qua những gen di truyền văn hóa và đang tỏa sáng.

Bức “Tùng hạ mãnh hổ đồ” của Kim Hong-do (1745–1806) và Kang Se-hwang (1713–1791), được vẽ vào nửa sau triều đại Joseon bằng mực và màu sáng trên giấy khổ 90,4 x 43,8 cm. Hổ Hàn với thân hình đồ sộ, bộ lông có sọc đẹp được Kim Hong-do – họa sĩ triều đình vẽ theo phong cách cực thực. Gốc tùng được vẽ bởi thầy ông là Kang Se-hwang.

Cái đẹp hoang dã
“Hoang dã kiểu Hàn” được bắt nguồn từ hiện thực. Nghệ thuật và cuộc sống vốn không có ranh giới, bởi nghệ thuật là cái đẹp được bám rễ và bộc lộ trong thực tế cuộc sống. Đó là hiện thực gắn liền với những trò chơi. Người Hàn rất thích chơi. Hễ có thể, người Hàn sẽ tạo sân chơi, nhảy múa ca hát. Thậm chí ở Hàn còn có một không gian rất riêng là noraebang, có nghĩa phòng hát hay karaoke.
Tố chất nghệ thuật liên quan đến ca múa của người Hàn vốn có lịch sử lâu đời. Theo tài liệu được ghi chép, lịch sử say mê ca múa của người Hàn có bề dày hơn 3.000 năm. Từ thời đồ đá mới đến thời đồ đồng đã xuất hiện những hình điêu khắc múa trên vách đá điêu khắc Bangudae ở Ulju. Hình người nhảy múa trên bức bích họa trong các ngôi mộ cổ thời Goguryeo (năm 37 TCN đến năm 668), đám đông làm lễ tế trời có từ thời trước đó, tất cả đều là những khoảnh khắc vui chơi. Tài liệu xưa còn ghi lại: “Ngày ngày họ tụ tập thành từng đám đông ăn uống múa hát, cả những người vãng lai cũng vui thích ca hát khiến tiếng ca không bao giờ ngớt”.
Ca múa đã trở thành nét đẹp trong thói quen sinh hoạt của tổ tiên vùng đất này. Những vò rượu ngát hương, lời ca điệu múa luôn có mặt trong mọi sinh hoạt thường nhật của người Hàn xưa: gieo hạt, thu hoạch, lao động. Ở đây không cần đến sân khấu, bởi đồng ruộng, chợ, sân nhà, bất cứ nơi nào cũng có thể trở thành một sân chơi. Cũng vì lý do này, dân ca cũng là những bài ca lao động đặc sắc trên khắp các địa phương toàn quốc. Như bài dân ca Arirang nổi tiếng không chỉ có một lời ca làn điệu mà mỗi địa phương có cả trăm kiểu hát được truyền lại đến ngày nay.
Với bản năng thích tự do vui chơi, không chịu bó buộc vào các quy chuẩn, tổ tiên vùng đất này là những người có khí chất lạc quan, thích dùng ca múa để giải tỏa nỗi niềm chất chứa. Họ cảm kích với những gì trời ban, chấp nhận thuận theo tự nhiên. Vì thế, họ không có thái độ u uất với những bi cực hay khiếm khuyết của cuộc đời. Họ dùng hài hước, trào phúng để giải tỏa dồn nén. Họ tận hưởng mỗi ngày, đem điệu vũ, lời ca, tiếng cười không ngớt đến nơi chốn đau khổ. Đó chính là khí chất của “hứng khởi” và “vui nhộn”.

Khi người Hàn “hứng”, mọi nơi đều được biến thành sân chơi. Chơi để tự do tự tại, tự do tự tại để cùng nắm tay gắn kết.

Bước vào thế kỷ 21, tôi đã tận mắt chứng kiến lịch sử nơi tinh thần “hứng khởi” tái hiện rực rỡ. Tại đây, sức mạnh tiềm ẩn độc đáo của người Hàn đã biến chính hiện trường tranh đấu với thứ quyền lực bất thường thành lễ hội. Không phải số ít các anh hùng mà là số đông những người thường đã viết nên lịch sử Hàn Quốc. Giai cấp thống trị và chính trị đã phản bội quần chúng, nhưng qua mỗi chặng đường khó khăn của lịch sử, quần chúng vẫn đồng lòng đứng lên, mở ra những trang sử mới. Chúng ta có thể thấy điều này trên những dòng sử hiện đại của Hàn Quốc thế kỷ 20. Đó là các nghĩa binh không tên tuổi thời thuộc địa Nhật, những học sinh, sinh viên dẫn dắt cuộc cách mạng 19 tháng 4 chống chế độ độc tài năm 1960, những người dân xuống đường hô vang khẩu hiệu dân chủ hóa năm 1987.
Cuộc biểu tình thắp nến mùa đông năm 2016 khiến cả thế giới kinh ngạc không phải một hiện tượng đột biến. Đó là sản phẩm của lịch sử đã được tích tụ nhiều năm trong dòng máu Hàn. Trong cuộc biểu tình thắp nến, người Hàn chơi, múa, hát ở quảng trường, trên đường để phản đối bất nghĩa. Chính sức mạnh biến hiện trường tranh đấu thành lễ hội là sức sống cao đẹp được tích lũy từ lâu đời của người Hàn.

“Bình mặt trăng” bằng sứ trắng Baekja. Thời đại Joseon. Độ cao: 43,8 cm, đường kính: 44 cm. “Bình mặt trăng” là chiếc bình được làm bằng sứ trắng thời Joseon, có độ cao hơn 40 cm, thân tròn. Nửa trên và nửa dưới của bình được làm riêng và gắn lại với nhau. Chiếc bình là Bảo vật Quốc gia số 310.

Nét sinh động thuần túy
Tôi yêu những chú hổ Hàn mạnh mẽ, linh lợi và từng sưu tập tranh hổ. So với hổ nhiệt đới như hổ Bengal, hổ Hàn thân to, nhiều lông, trên thân có sọc đẹp. Sức mạnh hung mãnh với dáng mềm mại thanh tao, nét gay cấn đến tột độ với vẻ thong dong của nó đã được miêu tả trong nhiều tác phẩm nghệ thuật.
Trong tranh dân gian, hổ Hàn có cả vẻ thong dong lẫn nét tinh nghịch, thể hiện bản tính lạc quan của ông cha ta, một sự sinh động thuần túy. Dĩ nhiên những chú hổ của tranh dân gian rất đẹp nhưng bức tranh hổ đẹp nhất phải kể đến là bức “Tùng hạ mãnh hổ đồ (mãnh hổ dưới gốc tùng)” của Danwon Kim Hong-do (1745–1806) – họa sĩ cung đình thời Joseon. Sự kết hợp hài hòa đến tuyệt hảo của gốc tùng và mãnh hổ có thể nói là một tác phẩm hoàn hảo đến từng khoảng trống.
Với các bức họa Hàn, khoảng trống, hay yeobaek (“dư bạch”), thể hiện quan điểm về thiên nhiên và thế giới của người Hàn. Khoảng trống không thuộc về ai, nó là “chân trời cảm xúc” mỗi người xem tự cảm nhận theo cách của riêng mình. Tôi từng ngắm bức “Tùng hạ mãnh hổ đồ” mỗi khi lòng u ám. Bàn chân dậm chắc nịch, cái đuôi đầy sức sống sinh động khiến lòng tôi bỗng nguôi ngoai.

Hổ là loại động vật đáng sợ, nhưng cảm nhận về hổ Hàn không phải sự dữ tợn mà là cái đẹp oai nghiêm. Ở chúng có khí khái uy nghi, kiêu hãnh mà không uy hiếp.

Trong tranh Hàn cổ, không có những chú hổ dữ tợn nhe nanh dọa đối phương. Các chú hổ trong tranh là sự phản chiếu hình ảnh con người sống trên mảnh đất đặc biệt nhiều hổ này. Sở hữu sức mạnh nhưng không phô trương, tràn đầy sinh lực mà không hung ác, hài hòa đến kỳ diệu khiến người ta chỉ cảm nhận về sự chung sống trong hòa bình. Ngắm nghía ánh mắt, vuốt ve bàn chân lừng lững của nó, hàng ngàn nét bút khiến từng sợi lông trở nên sống động. Tôi linh cảm một nhân tài như Danwon – người tưởng chừng thứ gì cũng có thể vẽ trong chớp nhoáng chắc cũng phải dồn hết tâm huyết, như một người đang tu hành khi vẽ bức mãnh hổ này. Ngắm từng sợi lông hổ, từ lúc nào không hay tôi thấy mình lại tràn trề sức sống.

Làm thế nào một vật điêu khắc bằng kim loại lạnh lẽo lại có thể truyền hơi ấm của đất và gió? Hoa, mây, gió, lửa cùng hòa quyện trong tiếng chuông ngân như chạm đến từng cảm xúc tinh tế nhất của cơ thể.

Quan điểm thẩm mỹ phá cách
Không chỉ những chú hổ Hàn, tôi còn yêu cả những ngôi chùa Hàn. Khắp mọi miền trên bán đảo Hàn, nơi nào vị trí phong thủy đẹp nhất, nơi ấy hẳn sẽ có một ngôi chùa. Vì thế khi đi du lịch Hàn Quốc, ta nhất định phải ghé qua những ngôi chùa chính yếu của địa phương. Có một việc tôi không bao giờ bỏ qua khi thăm chùa: đó là buổi tụng kinh niệm Phật lúc sáng sớm. Tiếng chuông chùa vang tỏa giữa không gian sơn tự buổi sớm như đưa ta về với cội nguồn của “âm thanh linh thiêng”.
Chuông chùa tiêu biểu nhất xứ Hàn là “Thánh Đức đại vương thần chung (Chuông thần của vua Seongdeok)” được làm thời Silla thế kỷ thứ 8, hay còn được biết đến là quả chuông huyền thoại Emille. Người ta truyền rằng để làm được chuông này đã phải mất 34 năm. Tiếng ngân thần bí sâu thẳm của nó khiến khoa học kỹ thuật hiện đại đời nay cũng khó lòng lý giải.
Mỗi sáng sớm và xế chiều, chuông chùa lại ngân lên vào giờ tụng kinh niệm Phật, cầu cho vạn vật thế gian an bình, thoát khổ thoát nạn. Tiếng ngân sâu thẳm, vang xa thật xứng với quy mô hoành tráng của nó. Nhắm mắt, tĩnh tâm hòa mình trong tiếng chuông, bạn sẽ cảm nhận bằng cơ thể cả vũ trụ như hòa làm một. Từ từ mở mắt, trước mắt bạn vẫn là mẫu hình về một cái đẹp người Hàn hằng trân trọng nhiều năm qua.
Một trong những thứ làm nên đặc trưng cấu trúc của chuông chùa Hàn Quốc là chiếc móc chuông. Đập ngay vào mắt là yongnyu – chiếc móc ở phần nóc để treo chuông. Tên gọi “yongnyu” (“long nứu”) được bắt nguồn từ hình dáng con rồng của chiếc móc. Chuông Trung Quốc vốn được đúc trước chuông Hàn Quốc và thường có hình hai con rồng đối xứng. Nhưng chuông Silla chỉ dùng một con rồng không đối xứng để tạo hình cấu trúc. Nếu như cặp rồng đối xứng cho cảm giác an toàn của móc chuông, thì một con rồng không đối xứng không dừng ở chức năng mà còn cho thấy quan niệm thẩm mỹ độc đáo. Người Hàn không thỏa mãn với sự đối xứng mang tính tĩnh mà bị cuốn vào cái đẹp phá cách. Chiếc móc chuông yongnyu sinh động như hình tượng hóa cho tiếng chuông vang rền, miêu tả trọn vẹn sức mạnh trong tiếng ngân của chuông.
Trong những chiếc chuông chùa thời Silla (năm 57 TCN đến năm 935) còn được bảo tồn đến ngày nay, cùng với “Thánh Đức đại vương thần chung” còn có “Thượng Viện tự đồng chung (Chuông đồng chùa Sangwon)”. Trên thân chiếc chuông này cũng có những hình điêu khắc tiên nữ rất đẹp, và dĩ nhiên nó cũng đem lại cảm giác về nhịp điệu và sự phá cách phi đối xứng. Làm thế nào một vật điêu khắc bằng kim loại lạnh lẽo lại có thể truyền hơi ấm của đất và gió? Hoa, mây, gió, lửa cùng hòa quyện trong tiếng chuông ngân như chạm đến từng cảm xúc tinh tế nhất của cơ thể.

“Thánh Đức đại vương thần chuông” (chi tiết). 771. Chiều cao: 366 cm, đường kính miệng chuông: 227 cm. Chiếc chuông chùa nổi tiếng này có hình khắc tiên nữ hay các vị thần tiên quỳ trên những đóa sen dâng hương.

Chung sống hòa bình
Nói đến vẻ đẹp Hàn, nhiều người sẽ nhớ đến và tán tụng chiếc “bình mặt trăng” sứ trắng Baekja thời Joseon (1392–1910). Tôi cũng rất thích chiếc bình này, nhưng có những lúc tôi muốn thưởng thức một vẻ đẹp mãnh liệt hơn mà khó có thể tìm thấy trong cái đẹp bình dị của chiếc bình mặt trăng. Những lúc muốn thỏa khao khát về một cái đẹp như thế, tôi lại nghĩ đến chiếc lư hương bằng đồng mạ vàng Baekjae.
Tôi thích đốt hương và đã từng được xem nhiều chiếc lư hương trên khắp thế giới. Nhưng chưa chiếc nào có thể làm tôi rung động đến thế. Bản thân nó là một khúc nhạc, một điệu vũ hoàn hảo. Trên đỉnh núi là một chim con phượng hoàng với viên ngọc như ý dưới cằm, đuôi vờn trong gió. Yến tiệc ôm theo đường cong mềm mại tượng trưng cho đỉnh núi nơi ở của các vị thần trường sinh bất lão. Thêm một đóa sen đỡ quả núi và chim phượng hoàng, cùng con rồng miệng ngậm nụ sen như đang dâng lên trời cao.
Cùng ngắm từng chi tiết trên quả núi mang hình tượng của thế giới lý tưởng. Dưới chim phượng hoàng là năm nhạc công đang chơi đàn. Từng lá đồng tượng trưng cho những đỉnh núi được khắc nổi theo đường cong tuyệt hảo của chiếc lư. Thác nước và dòng suối chảy xen giữa những lá đồng với 39 con vật và 11 vị tiên.

Trên những cánh sen, lại thêm 24 con vật đủ loại và 2 vị tiên. Ta có thể mường tượng cảnh khói hương phun ra giữa những đỉnh núi và những lỗ nhỏ trên ngực phượng hoàng, cùng mùi khói hương dâng lên như đám sương núi ôm lấy ngọn bồng lai.

Xã hội lý tưởng người Hàn hằng mơ chính là sự tồn tại trong hòa bình như thế. Người Baekjae muốn theo đuổi lý tưởng nơi con người và động vật cùng chung sống, thiên nhiên và con người hòa quyện làm một. Từng chi tiết của chiếc lư hương đều đẹp đến không thể tả xiết bằng lời. Và cũng giống như chiếc móc chuông yongnyu, phần giá đỡ của lư hương đáng lý chỉ cần trung thành với chức năng đỡ lấy phần thân lư một cách an toàn, nhưng các vị tổ tiên sống trên mảnh đất này không thỏa mãn với điều đó. Họ muốn phần giá đỡ cũng phải được thể hiện bằng hơi thở, lời ca nhịp nhàng. Tôi gọi phần giá đỡ của chiếc lư này là “con rồng gió cất tiếng hát”, bởi nó là làn điệu âm nhạc, gió, và điệu vũ.

Kim Seon-woo Nhà thơ, tiểu thuyết gia
Phan Thị Hồng Hà Dịch.
페이스북 유튜브

COMMENTS AND QUESTIONS TO koreana@kf.or.kr
Address: 55, Sinjung-ro, Seogwipo-si, Jeju-do, 63565, Republic of Korea
Tel: +82-64-804-1000 / Fax: +82-64-804-1273
ⓒ The Korea Foundation. All rights Reserved.

Copyright ⓒ The Korea Foundation All rights reserved.

페이스북 유튜브