CHUYÊN ĐỀ

Đường đến hiện đại:
Hàn Quốc đầu thế kỷ 20
CHUYÊN ĐỀ 1 Phố Jeongdong: Dư âm của khát khao và nỗi đau thời cận đại

Phố Jeongdong ở nội thành Seoul là không gian lưu giữ những thăng trầm ngắn ngủi của Đại Hàn Đế Quốc (1897–1910) – quốc gia cận đại do vua triều Joseon thành lập cách đây khoảng 100 năm. Tại khu phố này, nhiều tòa công sứ của các cường quốc phương Tây nằm san sát với cung Gyeongun (ngày nay là cung Deoksu) – nơi dung hòa giữa yếu tố truyền thống và cận đại. Thực tế, Jeongdong không những là phố ngoại giao đa phương đầu tiên ở Hàn Quốc mà còn là “phòng trưng bày” tiến trình du nhập nhanh chóng của văn minh phương Tây cùng sự xuất hiện của các cơ quan giáo dục, bệnh viện và cửa hàng cận đại.

Một góc cung điện Deoksu được bao quanh bởi các điện theo kiến trúc truyền thống và các tòa nhà theo kiến trúc hiện đại phương Tây được xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Năm 1897, Gojong – vị vua thứ 26 của triều đại Joseon tuyên bố thành lập nước Đại Hàn đế quốc tại cung điện này và thực hiện ngoại giao tích cực. Tuy nhiên, đến năm 1910 Đại Hàn đế quốc bị mất chủ quyền. © Deoksugung Palace Management Office

Cách đây khoảng 100 năm, công sứ các nước như Mỹ, Anh, Nga, Pháp… lần lượt tập trung đến khu phố khiến Jeongdong dần được gọi là “khu vực ngoại giao” hay “con phố ngoại giao”. Khi xây dựng tại đây, các nước thể hiện uy thế quốc gia bằng các toà công sứ với quy mô lớn, riêng toà công sứ Mỹ lại được xây dựng theo nhà truyền thống hanok; toà nhà này đến nay còn sử dụng làm tư gia đại sứ Mỹ.

Khách sạn, cửa hàng tấp nập người phương Tây ra vào mọc lên xung quanh các tòa công sứ khiến con phố trở thành khu người nước ngoài; đồng thời, phần lớn người nước ngoài tại Seoul thời đó cũng sinh sống quanh khu vực. Người phương Tây đầu tiên sống tại đây chính là đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc – ông Lucius Harwood Foote. Một năm sau khi Điều ước bảo trợ thương mại Mỹ–Triều năm 1882 được ký kết, ông đến Hàn Quốc với tư cách đặc phái viên, bộ trưởng toàn quyền và mua lại nhà của một thân tộc bên gia đình hoàng hậu Min nằm trong khu Jeongdong; nơi này trở thành tòa công sứ Mỹ thời kỳ đầu tiên.

Cộng đồng người nước ngoài sinh sống mang đến diện mạo mới cho con phố. Bên cạnh tòa công sứ Mỹ là cơ sở truyền giáo của Giáo hội Trưởng lão và Giáo hội Giám lý phương Bắc. Các giáo sĩ cũng thành lập cơ quan giáo dục như Học Đường Pai Chai (Pai Chai Haktang), Học Đường Ehwa, trường Kyungshin và các bệnh viện cận đại. Ngoài các tòa nhà có kiến trúc phương Tây hoa lệ, sự nở rộ các cửa hàng mua bán hàng hóa phương Tây quý hiếm đã biến khu vực này thành “phòng trưng bày” văn hóa. Đối với người Hàn Quốc đương thời, một nơi như thế biểu trưng cho tính “cận đại” và “phương Tây”.

Vua Yeongchin (giữa, hàng trước) hoàng tử cuối cùng của Joseon, tạo dáng với các quan chức ngoại giao cấp cao tại điện Seokjojeon. Ảnh chụp năm 1911. Tòa nhà theo kiến trúc tân cổ điển là nơi hoàng đế Gojong tiếp phái viên nước ngoài. Sau khi Nhật đô hộ Joseon, nơi này trở thành bảo tàng nghệ thuật. © National Palace Museum of Korea

Các trưởng đoàn ngoại giao ở Hanseong (tên cũ của Seoul) tạo dáng trong bức ảnh chụp năm 1903 sau một cuộc họp tại Sứ quán Hoa Kỳ theo lời mời của Bộ trưởng Horace N. Allen (thứ tư từ phải sang). Sứ quán Hoa Kỳ là cơ quan ngoại giao nước ngoài đầu tiên đặt trụ sở ở phố Jeongdong.

Khai sinh quốc gia cận đại
Đại Hàn Đế Quốc thành lập trên cơ sở thoát ly ảnh hưởng của nhà Thanh và Nhật Bản, nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao bình đẳng với các cường quốc phương Tây xây dựng quốc gia chủ quyền cận đại giàu mạnh về kinh tế lẫn quân sự dựa trên chính sách “tăng sản suất, chấn hưng nghiệp” (thực sản hưng nghiệp). Với xuất phát điểm đó, vào năm 1897, Đại Hàn Đế Quốc tuyên bố thoát khỏi thế giới Đông Á – nơi Trung Quốc là quốc gia trung tâm, trở thành thành viên của cộng đồng quốc gia theo luật pháp quốc tế. Để tiếp cận công sứ các nước phương Tây và nơi cư ngụ của người nước ngoài, nhà vua cho xây dựng hoàng cung Gyeongun trong khu vực.

Khu hoàng cung mới này, ngoài cung điện với kiến trúc truyền thống, phần lớn các điện khác đều mang kiến trúc phương Tây. Chủ trương con đường khai hóa, vua Gojong tích cực đi theo lối kiến trúc phương Tây thể hiện quyết tâm hiện đại hóa Đại Hàn Đế Quốc. Nếu như chính điện Junghwajeon (Trung Hòa điện) có cấu trúc truyền thống đại diện cho quyền lực nhà vua, thì những tòa có phong cách Tây phương lại tượng trưng cho sự cận đại, góp phần tăng vẻ tráng lệ cho cung điện hoàng gia.

Phố ngoại giao Jeongdong dần suy tàn do công sứ các nước phương Tây rời khỏi khi Đại Hàn Đế Quốc trở thành quốc gia bảo hộ của Nhật Bản. Vua Gojong xây dựng cung điện mới Gyeongun tại phố Jeongdong, mong muốn đẩy mạnh ngoại giao với các nước nhưng lại không nhận được sự giúp đỡ nào.

Một bức ảnh của hoàng đế Gojong trong “Album ảnh Hoàng gia Yi”, xuất bản năm 1920. Bức ảnh cho thấy hoàng đế tóc cắt ngắn, không đội mũ miện sau khi bị cưỡng chế thoái vị để cho con trai lên ngôi lấy hiệu Sunjong năm 1907. © Seoul Museum of History

Điện Jungmyeongjeon (Trọng Minh điện) trước đây là thư phòng của hoàng đế nằm gần con đường trước tư gia đại sứ Mỹ hiện nay. Sau vụ hỏa hoạn vào năm 1901, điện được xây lại thành tòa nhà hai tầng theo kiến trúc phương Tây; sau đó được sử dụng làm nơi sinh hoạt hàng ngày của vua Gojong do vụ cháy lớn của cung Gyeongun tháng 4 năm 1904. Trong chuyến công du Châu Á và ghé thăm Seoul tháng 9 năm 1905, Alice Roosevelt – con gái của tổng thống Roosevelt đã có buổi tiếp chuyện với vua Gojong ở tầng hai, thưởng thức yến tiệc món Tây ở tầng một của điện. Tiếp đón tiểu thư Alice Roosevelt hết sức nồng nhiệt với mong mỏi nước Mỹ sẽ ủng hộ Đại Hàn Đế Quốc, nhà vua còn tặng cô các bức ảnh cô chụp tại hành lang của tòa nhà. Thế nhưng, khi ấy nước Mỹ đã quyết định ủng hộ Nhật Bản qua Mật ước Taft-Katsura.

Mặt khác, điện Dondeokjeon (Đôn Đức điện), bị tháo dỡ vào thời Nhật trị, là cung điện được xây dựng vào năm 1902 nhân lễ chúc mừng 40 năm tại vị của vua Gojong để dùng làm nơi tiếp đón khách nước ngoài với quy mô là sự kiện quốc tế. Lễ mừng cuối cùng bị huỷ bỏ; nhưng tòa nhà hai tầng kiểu phương Tây, dung hòa giữa kiến trúc Phục hưng và Gothic sau đó được nhà vua dùng làm nơi tiếp kiến khách quốc tế hay nơi tổ chức bữa tiệc chiêu đãi giới quan chức cấp cao đến dự trong những bộ vest có đuôi dài.

Tồn tại đến nay trong khuôn viên cung Deoksu (Cung Đức Thọ), có quy mô lớn nhất với dáng dấp phương Tây, điện Seokjojeon (Thạch Tạo điện) là kiến trúc được đề xuất bởi lãnh sự giám sát của viên hải quan người Anh, ông John Mcleavy Brown, và bản thiết kế do kỹ sư người Anh, ông J.R. Harding, người có kinh nghiệm làm việc tại Thượng Hải. Dù gặp nhiều hạn chế về tài chính, vua Gojong đặt rất nhiều kỳ vọng vào điện Seokjo nhằm thể hiện tính cận đại của Đại Hàn Đế Quốc qua cấu trúc tân cổ điển hùng vĩ. Tiếc thay, phải đến tận tháng 6 năm 1910, ngay trước thời điểm bắt đầu thời Nhật trị, tòa nhà mới được hoàn thành.

Ở thời kỳ Đại Hàn Đế Quốc, công tác phát triển hạ tầng đô thị như mở rộng hệ thống giao thông xuyên tâm, mở cửa các công viên nội đô cho người dân cũng được triển khai. Yi Chae-yeon, một người có kinh nghiệm làm việc ở Đại sứ quán Mỹ tại Đại Hàn Đế Quốc, thực hiện kế hoạch cải cách đô thị mới theo mô hình thành phố Washington D.C. Vua Gojong thành lập Công ty điện tử Hanseong có vốn trích từ lương của nhà vua để xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị. Đến năm 1899, chuyến tàu điện đầu tiên nối liền phía tây và đông Seoul từ Seodaemun đến Cheongnyangni đi vào hoạt động. Đường tàu này là đường tàu ra đời thứ hai ở Châu Á sau đường tàu ở Kyoto, Nhật Bản và trở thành tâm điểm hiếu kỳ đối với người dân kinh thành khi lần đầu tiên sử dụng phương tiện công cộng được cho là thuận tiện hơn hệ thống ở Kyoto. Năm 1900, khi các con đường ở phố Jongno nằm cắt giữa nội đô được chiếu sáng bằng đèn, phong cảnh đường phố Gyeongseong (Seoul ngày nay) trở nên thật rạng rỡ. Isabella Byrd Bishop, một nhà du lịch người Anh, sau bốn lần ghé thăm Hàn Quốc thể hiện sự kinh ngạc trước các con phố thay đổi ngoạn mục ở Seoul trong quyển sách bestseller của mình mang tên “Hàn Quốc và Các Quốc Gia Láng Giềng” (Korea and Her Neighbours) xuất bản năm 1897.

Trung tâm chiến lược ngoại giao
Năm 1880, khi bắt đầu theo đuổi chính sách khai hóa, vua Gojong hơn ai hết là người tích cực tiếp xúc các nhà truyền giáo Cơ Đốc, nhân viên ngoại giao và nhà du lịch phương Tây để tiếp thu và thu thập thông tin về văn minh phương Tây. Ông là vị vua quen với lối sống phương Tây như sử dụng điện và điện thoại, thích thưởng thức cà phê và sâm banh trong cung điện của mình. Ông còn diện lễ phục như vua Đức khi tiếp đón phái đoàn ngoại giao các nước cũng như chiêu đãi họ các buổi tiệc theo phong cách Pháp.

Vua Gojong cho Antoinette Sontag, một phụ nữ gốc Đức, họ hàng với công sứ Nga tại Hàn, chuyên đảm nhiệm việc tiếp đón khách nước ngoài. Người phụ nữ này xây dựng một khách sạn để kinh doanh từ phần đất được Gojong ban tặng trong khu Jeongdong. Để thực hiện chính sách hiện đại hóa, vua Gojong đã tuyển khoảng 200 người phương Tây từ các cố vấn cao cấp đến kỹ sư liên quan các lĩnh vực như điện, tàu điện, điện tín, khoáng sản, và các ngành liên quan đến hệ thống đường sắt cho các Bộ trong hệ thống chính phủ. Các cố vấn một mặt hỗ trợ chính phủ Đại Hàn Đế Quốc tiếp xúc chế độ và văn minh phương Tây, một mặt lại gây ra tranh chấp lẫn nhau liên quan đến lợi ích quốc gia của từng người. Những người này cũng sống trong khu Jeongdong cùng với viên chức ngoại giao các nước, các giáo sĩ, hình thành nên cộng đồng người nước ngoài thời Đại Hàn Đế Quốc.

Nỗ lực trở thành thành viên của cộng đồng quốc tế cận đại, Đại Hàn Đế Quốc rất chú trọng hoạt động ngoại giao, trong đó phố Jeongdong là trung tâm của các hoạt động ngoại giao chính thức và phi chính thức. Sau khi cử nhân viên ngoại giao thường trú đến Washington D.C Mỹ vào năm 1887, Đại Hàn Đế Quốc lần lượt gửi nhân viên ngoại giao thường trú đến các quốc gia khác như Nga, Pháp, Anh, Đức,... thiết lập sứ quán tại các nước. Bên cạnh đó, vua Gojong còn cử đại thần thân cận của mình là Min Young-hwan làm đặc sứ đến tham dự lễ tấn phong của Nga hoàng Nicola đệ nhị năm 1896, cũng như lễ kỷ niệm 60 năm tại vị của nữ hoàng Anh Victoria năm 1897.

Cùng với việc tham gia Điều ước quốc tế, Đại Hàn Đế Quốc trở thành thành viên của Liên minh Bưu chính vào năm 1899, đến năm 1903 thì trở thành quốc gia thành viên trong Hiệp Ước Geneva. Tuy không thể tham dự Hội Nghị Hoà bình Hague lần 1 năm 1899, nơi mà các quốc gia thành viên tham dự để giải quyết tranh chấp quốc tế theo phương thức hoà bình, Đại Hàn Đế Quốc cũng đệ đơn xin gia nhập thành viên vào tháng 2 năm 1902, chuẩn bị đối phó với sự xâm lược của Nhật Bản.

Ngay trước khi chiến tranh Nga–Nhật nổ ra vào năm 1904, ngày 21 tháng 1 tại Kiết Phổ (Trung Quốc) Đại Hàn Đế Quốc gửi bức điện tuyên ngôn về lập trường trung lập không tham chiến đến toàn thế giới. Bản tuyên ngôn này được các cung nội quan soạn thảo dưới sự giám sát của Yi Young-ik, một đại thần tâm phúc của vua Gojong, với sự góp ý của Emile Martel, một giáo sư tiếng Pháp và một cố vấn người Bỉ. Đại sứ ủy quyền ở Đại sứ quán Pháp tại Hàn Quốc, ông Vicomte De Fonenay, chuyển ngữ Bản tuyên ngôn trung lập sang tiếng Pháp, sau đó phó lãnh sự Pháp tại Kiết Phổ trực tiếp phát đi bản điện tín. Phớt lờ sự tồn tại của bản Tuyên ngôn trung lập, trong lúc chiến tranh Nga–Nhật đang diễn ra, Nhật Bản vẫn đưa hàng ngàn quân vào bán đảo Hàn thực hiện cưỡng chế quân sự, trong khi cộng đồng quốc tế thì vờ như không biết đến hành động vi phạm luật pháp quốc tế của Nhật Bản.

Nước Anh, đồng minh với Nhật trong Liên Minh Anh–Nhật đệ nhị, và nước Mỹ với Mật ước Taft-Katsura đương nhiên ủng hộ hành động của Nhật. Năm 1906, nhờ nỗ lực đưa đại diện hai quốc gia tham chiến đến Portsmouth Mỹ tham dự đàm phám Nga–Nhật, Roosevelt trở thành người Mỹ đầu tiên nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình từ vai trò của mình đối với Điều ước Hoà bình Portsmouth. Là quốc gia thắng trận, Nhật được Mỹ, Anh và Nga công nhận quyền ảnh hưởng đối với Đại Hàn Đế Quốc. Tháng 11 năm 1905, Nhật thông qua Điều ước Bảo hộ đối với Đại Hàn Đế Quốc. Vua Gojong nhất quyết không công nhận điều ước đó, Nhật cử đại sứ đặc phái Ito Hirobumi uy hiếp các đại thần trong triều; điều ước này vì vậy không có hiệu lực theo luật quốc tế. Thế nhưng, Nhật nhanh chóng công bố điều ước ra thế giới để biến Đại Hàn Đế Quốc thành quốc gia bảo hộ của mình.

Điện Jungmyeongjeon được xây dựng năm 1899 làm thư viện của hoàng gia, từ năm 1904 trở thành nơi ở và làm việc của vua Gojong. Hiệp ước bảo hộ Nhật – Hàn ký kết năm 1905 tại đây. Tòa nhà hiện nằm bên ngoài bức tường phía tây của cung Deoksu.

Một bức ảnh của Jungmyeongjeon in trong quyển “Lịch sử của cung điện Deoksu”, một cuốn sách được viết bởi nhà sử học Nhật Bản Oda Shogo, xuất bản năm 1938. Tòa nhà đã trải qua cải tạo lớn sau trận hỏa hoạn năm 1925. © Korea Creative Content Agency

Nơi chủ quyền quốc gia bị đánh mất
Vào đêm Ito Hirobumi buộc vua Gojong thông qua Điều ước Bảo hộ tại điện Jungmyeong bên trong cung Geyongun, chính phó lãnh sự Williard Straight của Đại sứ quán Mỹ đã chứng kiến sự xuất hiện của rất nhiều lính Nhật Bản có vũ trang đứng trước điện Jungmyeong. Thế nhưng ngay khi điều ước bảo hộ được tuyên bố, Mỹ cho đóng cửa đại sứ quán của mình. Các nước khác ngay sau đó cũng lần lượt đóng cửa đại sứ quán của họ khi điều ước được kí kết. Chỉ duy có Pháp, đồng minh quân sự của Nga, là quyết định đóng cửa đại sứ quán sau cùng.

Phố ngoại giao Jeongdong dần suy tàn do công sứ các nước phương Tây rời khỏi khi Đại Hàn Đế Quốc trở thành quốc gia bảo hộ của Nhật Bản. Vua Gojong xây dựng cung điện mới Geyongun tại phố Jeongdong, mong muốn đẩy mạnh ngoại giao với các nước nhưng lại không nhận được sự giúp đỡ nào. Jeongdong giờ là địa điểm phơi bày hiện thực tàn nhẫn trong cộng đồng quốc tế rằng một quốc gia không thể giữ chủ quyền độc lập nếu chỉ dựa vào quan hệ ngoại giao với các cường quốc trong khi nội lực quốc gia quá suy yếu.

Tuy vậy, vua Gojong vẫn không dừng kêu gọi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Ông cử đặc sứ đến Mỹ và Nga để gửi thư yêu cầu giúp đỡ. Bức thư nhấn mạnh tính bất hợp pháp của Điều ước bảo hộ vì sự cưỡng chế của nó, nhưng các cường quốc đều để ngoài tai. Vua Gojong lại nhờ cựu Đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc ông Horace N.Allen, yêu cầu Mỹ nêu lên vấn đề ở bán đảo Hàn trước các cường quốc và cộng đồng quốc tế, nhưng chẳng nhận được hồi đáp. Ngoài ra, Gojong còn thông qua vị giáo sĩ người Mỹ là Homer Hulbert, người mà ông tín nhiệm để gửi thư thỉnh cầu đến nguyên thủ chín quốc gia gồm Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga, Áo, Hungary, Ý, Bỉ và Trung Quốc,... yêu cầu quyền tài phán tại Tòa án Trọng tài Thường trực Hague về vấn đề của Đại Hàn Đế Quốc nhưng tất cả đều thất bại.

Nỗ lực cuối cùng của Gojong là gửi đoàn đại sứ đặc phái đến Hội nghị hòa bình Hague lần thứ hai năm 1907. Trong một căn phòng tại điện Jungmyeong, vua Gojong thành lập đoàn đại sứ đặc phái gồm ba đại thần tâm phúc là Yi Sang-seol, Yi Jun, Yi Wi-jong; ở đây, họ bàn thảo về việc đến dự Hội nghị hoà bình Hague. Vượt qua lãnh thổ Nga để đến Hague, sứ đoàn đặc phái của Đại Hàn Đế Quốc không được trực tiếp tham dự hội nghị, nhưng họ đã vạch trần hành vi xâm lược chủ quyền bất hợp pháp của Nhật trước giới ngôn luận thế giới tham dự tường thuật ở hội nghị, kêu gọi thế giới ủng hộ quyền độc lập của Đại Hàn Đế Quốc. Một lần nữa các cường quốc lại làm lơ trước lời kêu gọi của Đại Hàn Đế Quốc. Hulbert, vị giáo sĩ người Mỹ, người luôn yêu thương đất nước con người Joseon và giúp đỡ đoàn đặc sứ tại Hague sau đó cũng qua đời và được an táng tại Công viên Yang Hwa-jin (Dương Hoa Tân) dành cho người nước ngoài ở Seoul.

Nhật Bản nhân chuyện phái đoàn đặc sứ tại Hague đã buộc Gojong thoái vị vào tháng 7 năm 1907. Điện Jungmyeong là nơi chứng kiến Gojong nhượng ngôi cho hoàng thái tử trái với mong muốn của ông. Vị hoàng đế cuối cùng của Đại Hàn Đế Quốc, vua Sunjong (Thuần Tông) theo lệnh của Nhật chuyển về cung Changdeok, nơi ở truyền thống của các vua triều Joseon. Sau khi buộc thoái vị, vua Gojong bị giam lỏng tại cung Gyeongun, khi ấy được đổi tên thành cung Deoksu, đến năm 1919 thì băng hà. Lễ tang nhà vua khơi mào cho cuộc biểu tình quy mô lớn đòi hỏi chủ quyền độc lập của người Hàn.

Gyeongun, hoàng cung gắn với sự ra đời của Đại Hàn Đế Quốc giờ đây không còn chủ và bị bỏ hoang. Đế quốc Nhật sau đó thu hẹp diện tích và phá bỏ nhiều điện trong cung. Cung điện từng là nơi sinh sống của vua Gojong được thuê lại để làm câu lạc bộ vui chơi cho người nước ngoài, còn phần đất của điện Dondeok từng là nơi tiếp khách nước ngoài được quy hoạch để làm công viên vui chơi trẻ em. Năm 1930, khi Nhật xây dựng cung Deoksu thành công viên, ngoài điện Junghwa, Seokjo và một vài điện được giữ lại thì phần lớn các điện khác đều bị tháo dỡ. Chủ quyền quốc gia của Đại Hàn Đế Quốc dần bị Nhật Bản phá hủy cùng với sự suy tàn của con phố Jeongdong.

Từng là nơi lưu giữ những khát vọng và nỗi đau về nỗ lực cận đại của Đại Hàn Đế Quốc, Jeongdong giờ đây không còn là khu phố Tây nữa. Thay vào đó, sau 100 năm, khu phố là di tích lịch sử nằm giữa trái tim một đô thị toàn cầu, thủ đô Seoul, Hàn Quốc. Ngày nay, đối với người Hàn Quốc, phố Jeongdong nổi tiếng là nơi có thể rảo bước và thưởng thức hương vị thanh bình, yên ả của một cung điện cổ giữa lòng phố thị hoa lệ.

Con đường uốn lượn dọc theo tường đá của cung điện Deoksu có bầu không khí đặc biệt yên tĩnh giữa sự náo nhiệt của Seoul nhộn nhịp. Bên trái là bức tường bao quanh cung điện phía sau, còn bên phải là khu đại sứ quán Hoa Kỳ. © Getty Images

Suh Young-hee Giáo sư chuyên ngành Lịch sự cận đại Hàn Quốc, Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Hàn Quốc
La Duy Tân Dịch
페이스북 유튜브

COMMENTS AND QUESTIONS TO koreana@kf.or.kr
Address: 55, Sinjung-ro, Seogwipo-si, Jeju-do, 63565, Republic of Korea
Tel: +82-64-804-1000 / Fax: +82-64-804-1273
ⓒ The Korea Foundation. All rights Reserved.

Copyright ⓒ The Korea Foundation All rights reserved.

페이스북 유튜브